Tuệ Tĩnh - người mở đầu nền y dược cổ truyền dân tộc

Thứ sáu - 04/04/2014 15:20
Câu nói: “ Nam dược trị Nam nhân” nghĩa là: Dùng thuốc Nam trị bệnh cho người nước Nam của Ông Tổ thuốc Nam – Tuệ Tĩnh đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều thế hệ thầy thuốc YHCT Việt Nam.
Thiền sư Tuệ Tĩnh
Thiền sư Tuệ Tĩnh
     Nhà thư mục học nổi tiếng E. Garpirdone ( Pháp) hoàn toàn có lý khi viết trong tạp chí của trường Viễn Đông Bác Cổ: “ Có thể nói không quá đáng rằng, Tuệ Tĩnh là người sáng lập thật sự ra nghề thuốc Việt Nam, về sau Hải Thượng Lãn Ông là người tuyên truyền có hiệu quả nghề này. Tại Hải Dương, còn đền thờ ông ở chùa Hải Triều làng Yên Trung, xã Cẩm Văn, Cẩm Vũ nay là Chùa Giám, xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng, có tượng Tuệ Tĩnh và câu đối thờ ông ( dịch nghĩa):
Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái Lĩnh;
Sống nhờ cửa Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm Giang
  
     Tuệ Tĩnh (1330-?) được phong là ông tổ ngành dược VN và là người mở đầu cho nền y dược cổ truyền VN. Các bộ sách Nam Dược thần hiệuHồng Nghĩa tư giác y thư của ông không chỉ có ý nghĩa trong lịch sử y học mà cả trong lịch sử văn học VN.
     Nếu những kết quả nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học VN sau này không đưa thêm bằng chứng gì mới thì truyền thuyết địa phương và những công trình nghiên cứu chuyên môn khác cho phép khẳng định Tuệ Tĩnh là một nhân vật đời Trần. Ông chính tên là Nguyễn Bá Tĩnh, quê ở làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thái, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (tỉnh Hải Dương ngày nay).
     Mồ côi cha mẹ từ lúc 6 tuổi, Nguyễn Bá Tĩnh được các nhà sư chùa Hải Triều và chùa Giao Thủy nuôi cho ăn học. Theo tài liệu của nhà báo Vũ Kiên: “ Thấy Bá Tĩnh tư chất thông minh, nhà sư trụ trì chùa đã hết mực thương yêu và dạy dỗ, cho cậu học sách thánh hiền. Ngay từ nhỏ, tự mình trải nghiệm cảnh cha mẹ chết sớm vì bệnh tật hiểm nghèo, lại chứng kiến cảnh dân lành sống cơ cực, đau ốm không có thuốc men, phụ nữ mang thai, trẻ sơ sinh không được chăm sóc, nạn hữu sanh, vô dưỡng, chết non, chết yểu đập vào mắt mình hàng ngày làm cho Bá Tĩnh day dứt, suy nghĩ. Tủ sách của chùa khá phong phú, ngoài việc dùi mài kinh sử, cậu say mê đọc các sách về y lý,y thuật mong sau này có thể chữa bệnh cứu người. Cậu còn được giao trông nom vườn thuốc và cây cảnh của nhà chùa. Vườn chùa quanh năm có cây thuốc xanh tốt, hoa cảnh rực rỡ, hương thơm ngào ngạt. Trong các loài hoa do tay mình chăm sóc, vun trồng Bá Tĩnh thích nhất là hoa Huệ.
     Một hôm nhà sư trụ trì ở chùa ra thăm vườn, thấy Bá Tĩnh cắm cúi vun xới luống hoa huệ, cụ rất hài lòng. Từ nơi sâu thẳm của lòng thiền, bổng trào lên một niềm vui khó tả, nhà sư nghĩ tới tương lai của cậu bé, tuy nhà nghèo, nhưng biết thương người, thông tuệ khác thường, lại cần cù, chăm chỉ, học đâu nhớ đấy, nhà sư ngẫu hứng ngâm:
Hoa khai bất trạch bần gia địa;
( Hoa nở không chọn đất nhà nghèo hay giàu)


Bá Tĩnh nghe đọc, hứng khởi đối tác:

Đức thụ tự bồi phúc quả chung
( Trồng vun cho cây đức thì được quả phúc)


     Nhà sư sung sướng, thương mến nhìn Bá Tĩnh, lây ngay chữ Huệ đặt cho Tĩnh, gọi là Huệ Tĩnh, cũng chính là Tuệ Tĩnh, bậc danh y có công xây dựng nền y học dân tộc nước ta. Và những việc làm cùng những kết quả của nhiều năm nghiên cứu cần cù và phục vụ tận tụy của ông đã minh chứng: Tuệ Tĩnh đã vun trồng cây đức thì được quả phúc” ( theo Báo Sức khỏe & đời sống số 27/02/2006).
      Năm 22 tuổi, ông đậu Thái học sinh dưới triều vua Trần Dụ Tông, nhưng không ra làm quan mà ở lại chùa đi tu lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh. Những ngày đi tu cũng là những ngày ông chuyên học thuốc, làm thuốc, chữa bệnh cứu người.
     Năm 55 tuổi (1385), Tuệ Tĩnh bị đưa đi cống cho triều đình nhà Minh. Sang Trung Quốc, ông vẫn làm thuốc, nổi tiếng, được vua Minh phong là Đại y Thiền sư, mất ở bên ấy, không rõ năm nào. Bia văn chỉ làng Nghĩa Phú (do Nguyễn Danh Nho soạn năm 1697) cùng các tư liệu khác ở địa phương đều ghi như vậy.
Những năm ở trong nước, Tuệ Tĩnh đã chăm chú nghề thuốc: trồng cây thuốc, sưu tầm kinh nghiệm chữa bệnh trong dân gian, huấn luyện y học cho các tăng đồ. Ông đã tổng hợp y dược dân tộc cổ truyền trong bộ sách giá trị là bộ Nam dược thần hiệu chia làm 10 khoa. Đặc biệt, ông có bộ Hồng Nghĩa tư giác y thư (2 quyển) biên soạn bằng quốc âm, trong đó có bản thảo 500 vị thuốc nam, viết bằng thơ Đường luật (nôm), và bài Phú thuốc Nam 630 vị cũng dùng quốc ngữ.
     Thơ văn Nôm đời Trần rất hiếm, nếu quả thực đó là tác phẩm của ông thì Tuệ Tĩnh không những có vị trí trong lịch sử y học mà cả trong lịch sử văn học nữa.
     Từ bao đời nay, giới y học VN và nhân dân đều công nhận Tuệ Tĩnh có công lao to lớn trong việc xây dựng một quan điểm y học độc lập, tự chủ, sát với thực tế VN. Câu nói của ông: "Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt" biểu hiện sự nhận thức sâu sắc về quan hệ giữa con người và sinh cảnh, đồng thời cũng tiêu biểu cho ý thức độc lập tự chủ.
     Ngay trong việc nghiên cứu dược liệu, ông cũng không chịu phụ thuộc vào cách sắp xếp của những sách nước ngoài. Chẳng hạn, ông không đưa kim, mộc, thủy, hỏa, thổ lên đầu mà xếp các cây cỏ trước tiên. Ông cũng phê phán tư tưởng dị đoan của những người chỉ tin vào phù chú mà không tin thuốc. Ông đã nêu ra nhiều phương pháp khác nhau để chữa bệnh như: châm, chích, chườm, bóp, xoa, ăn, uống, hơ, xông, v.v.
     Tuệ Tĩnh đã không dừng lại ở vị trí một thầy thuốc chữa bệnh, ông còn tự mình truyền bá phương pháp vệ sinh, tổ chức cơ sở chữa bệnh trong nhà chùa và trong làng xóm. Có tài liệu cho biết, trong 30 năm hoạt động ở nông thôn, Tuệ Tĩnh đã xây dựng 24 ngôi chùa, biến các chùa này thành y xá chữa bệnh. Ông tập hợp nhiều y án: 182 chứng bệnh được chữa bằng 3.873 phương thuốc.
     Ông cũng luôn luôn nhắc nhở mọi người chú ý nguyên nhân gây bệnh, tìm biện pháp phòng bệnh tích cực. Tuệ Tĩnh nhấn mạnh tác dụng việc rèn luyện thân thể và sinh hoạt điều độ. Ông nêu phương pháp dưỡng sinh tóm tắt trong 14 chữ:

Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần.
Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình.

     Tuệ Tĩnh còn tập hợp những bài thuốc chữa bệnh cho gia súc. Có thể nói, ông đã góp phần đặt cơ sở cho ngành thú y dân tộc.
     Nhiều thế kỷ qua, Tuệ Tĩnh được tôn là vị thánh thuốc VN. Tại Hải Dương, còn đền thờ ông ở xã Cẩm Văn, Cẩm Vũ, ở chùa Hải Triều làng Yên Trung, nay là chùa Giám, xã Cẩm Sơn, huyện Cầm Giàng, có tượng Tuệ Tĩnh. Câu đối thờ ông ở đền Bia viết, dịch nghĩa như sau:

Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái lĩnh
Sống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm Giang.


Tác giả bài viết: Giáo sư VŨ NGỌC KHÁNH - ĐỖ THỊ HẢO

Nguồn tin: Báo Nhân Dân

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Cám ơn

PHÚC TÂM ĐƯỜNG
Số: 4 B đường Phan Bội Châu, Phường 1, TP Tuy Hòa
Mail: Phuctamduong@gmail.com | ĐT: 0905 147 543

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây