Phúc Tâm Đường

https://phuctamduong.com


THIÊN GIA DIỆU PHƯƠNG: Các bệnh vần H

.

.

“ Thiên gia diệu phương” có thể hiểu là “Những bài thuốc hay của đông đảo thầy thuốc” là một cuốn sách giới thiệu nhiều bài thuốc (cổ phương, tân phương, dân gian, gia truyền) dùng chữa những bệnh thường gặp nhưng chữa chạy không dễ dàng…Do đó, ngoài khái niệm và thuật ngữ của y dược học cổ truyền còn có khái niệm và thuật ngữ của y học hiện đại và cả 2 giới y dược cổ truyền và hiện đại đều có thể tìm thấy ở đây những kinh nghiệm bổ ích về y dược.(GS Hoàng Bảo Châu)

46. HEN PHẾ QUẢN

- Biện chứng đông y: Hàn tà phạm phế, khí cơ thất lợi.

- Cách trị: Tân hàn bình suyễn.

- Đơn thuốc: Cao trị hen suyễn.

- Công thức:

 Chế nam tinh              15g  Pháp bán hạ               15g
 Cát cánh                    15g  Xuyên bối                   15g
 Tế tân                        15g  Hạnh nhân                  15g
 Sinh cam thảo            15g  Ngũ vị tử                     15g
 Sinh Ma hoàng             9g  Bạch tô tử                    9g
 Khỏan đông hoa           9g  Sinh tử uyển                9g
 Ma dầu (dầu gai)      200g  Bạch mật (mật trắng) 120g
 Sinh khương trấp
(nước gừng tươi)      120g
 

Trước hết đun đổ 12g vị thuốc đầu tiên vào trong dầu gai ngâm 24 giờ, đem sao cho đặc, lọc bỏ bã, lấy nước, sau đó cho thêm mật trắng vào nước gừng tươi đun cô thành cao, cho tới lúc đem nhỏ vào nước thì thành giọt châu, lấy được khoảng 440g. Mỗi ngày buổi sớm khi gà gáy canh nǎm thì uống 1 thìa nhỏ với nước đun sôi để nguội, trẻ em thì giảm bới liều dùng tùy lớn nhỏ. Trong thời gian dùng thuốc này không được ǎn các thức ǎn sống, lạnh, rượu, tôm, cua...

- Hiệu quả lâm sàng: DungXX, nam, 38 tuổi, cán bộ. Khám điều trị nǎm 1957. Bệnh nhân bị hen phế quản kéo dài đã 6 nǎm. Thoạt đầu mỗi nǎm lên cơn 1-2 lần, phần nhiều vào mùa đông xuân, sau khi bị lạnh. Nói chung uống ephedrin hoặc các thuốc đông y thì có thể dứt cơn được. Hai nǎm gần đây ngày càng bị nhiều cơn hơn, cứ mấy ngày lại lên một cơn hen, mỗi lần bị mất hàng tuần lễ mới dứt dần, dùng các loại thuốc đông tây y chỉ có thể tạm thời dễ chịu hơn một chút mà không giảm bớt được tần suất cơn hen. Cho uống "Cao trị hen", đề nghị người bệnh kiên trì dùng liên tục, khi dùng hết khoảng 250g, thì dứt hết cơn hen. Lại tiếp tục uống cho tới tất cả 2 500g, đồng thời phối hợp cho dùng một số Kim quĩ thận khí hoàn, Bột nhau thai, sau khi khỏi bệnh đã theo dõi 21 nǎm không thấy tái phát.

- Bàn luận: "Cao trị hen" xuất xứ từ bộ sách Phật học "Tây phương công cụ kinh nghiệm lương phương". Qua chỉnh lý gia giảm mà thành. Dùng trên lâm sàng quan sát mấy chục nǎm nay, xác nhận là bài thuốc có hiệu quả tốt để trị hen phế quản. Đặc biệt nếu dùng cho những bệnh nhân hen phế quản dạng hàn chứng thì hiệu quả lại càng tốt. Khi dùng bài thuốc này nên cǎn cứ vào lý luận đông y "Thận bất nạp khí". "Phế bệnh tại tì", "Tử bệnh lụy mẫu", đồng thời với việc khống chế cơn hen, cần chú ý điều bổ tì thận, như cho uống Kim quỹ thận khí hoàn, Hà sa đại tạo hoàn, Sâm kỳ cao, có thể tǎng thêm kết quả điều trị lên nhiều, củng cố lâu dài được hiệu quả điều trị.

 

47. HEN PHẾ QUẢN

- Biện chứng đông y: Đàm ẩm suyễn quản.

- Cách trị: Tuyên phế hóa đàm, bình suyễn chỉ khái.

- Đơn thuốc: Tiêu suyễn thang.

- Công thức:

 Chích Ma hoàng           9g  Tế tân                          9g
 Xạ can                         9g  Sinh thạch cao           24g
 Ngũ vị tử                      9g  Chích cam thảo           9g
 Pháp bán hạ                9g  

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang, chia làm 3 lần. Người bị bệnh lâu ngày thể hư thì lượng thuốc dùng có thể giảm bớt, hoặc 1 thang chia làm nhiều lần mà uống. Người thiên về hàn thì thêm Can khương 10g, Phụ tử 9g, bỏ bớt Sinh thạch cao; người thiên về nhiệt thì thêm Tang bạch bì 12g, Hoàng cầm 10g, người bị bệnh suyễn nặng thì thêm Địa long 10g, Bạch quả 10g, người có nhiều đờm thì thêm Bối mẫu 10g, Trúc lịch 10g.

- Hiệu quả lâm sàng: Khu XX, nam, 39 tuổi, nông dân. Từ nǎm lên 10, người bệnh do bị cảm lạnh thành ho hen suyễn. Điều trị bệnh đã đỡ nhưng về sau mỗi khi bị nhiễm lạnh lại lên cơn hen không dứt được, càng ngày càng nặng, tuy đã điều trị bằng nhiều loại thuốc mà vẫn không khỏi. Một nǎm trở lại đây, mỗi lần lên cơn hen lại so vai ngửa cổ mà hít thở, trông rất thảm hại. Đã dùng ephedrein, aminophylin, mà không cắt được cơn hen. Dùng corticoid thì có thể giảm cơn hen tạm thời được 20-30 phút, tiêm truyền hormon vào tĩnh mạch thì phải mất khoảng 1 ngày mới cắt được cơn hen. Cho uống "Tiêu suyễn thang", uống được 1 thang thì hen giảm hẳn, uống hết 2 thang thì cơ bản khống chế được cơn hen. Lại cho dùng Lục quân tử thang và Sinh mạch tán, có tác dụng bồi thổ sinh kim, Thất vị đô khí thang để ôn thận, nạp khí, các bài thuốc này dùng lần lượt thay nhau và đều có gia giảm, khi lên cơn hen thì vẫn uống Tiêu suyễn thang. Cứ như thế tiếp tục điều trị hơn nửa nǎm, số lần lên cơn hen giảm đi rõ rệt, cường độ cơn hen cũng nhẹ hơn nhiều, thể lực tǎng lên rõ rệt. Một nǎm sau thì bệnh cơ bản khỏi hẳn.

- Bàn luận: "Tiêu suyễn thang" là bài thuốc tuyển chọn phối hợp chữa hen của đông y dựa trên các bài thuốc Tiểu thanh long thang, Sạ can ma hoàng thang, Ma hạnh thạch cam thang. Trong bài thuốc này chú trọng sử dụng Ma hoàng để tuyên phế bình suyễn, Tế tân để ôn phế hóa ẩm, Xạ can để bình nghịch giáng khí, Bán hạ có tác dụng hóa đàm khử ẩm, Ngũ vị tử liễm phế cầm ho và khống chế sự "tán" của Tế tân, Sinh thạch cao để thanh phế giải nhiệt và khống chế "hãn" (gây mồ hôi) của Ma hoàng, Chích cam thảo nhuận phế cầm ho, điều hòa các vị khác, nhằm đạt được hiệu quả phối hợp hóa đàm tuyên phế, bình suyễn chỉ khái. Hen suyễn do phế tuyên mà sẽ bình được, ho do đờm giảm mà cầm được. Người xưa có nói "Tế tân bất quá tuyến", nay dùng trong "Tiêu suyễn thang" tới 9g, tương đương với 3 tiền, nhưng chỉ cần dùng đúng bệnh, phối hợp đúng phương pháp, trên lâm sàng chưa thấy có phản ứng nào không tốt. Đó cũng chính là điều mà "Nội kinh" đã nói:"Hữu cố vô vẫn, dược vô vẫn dã".

 

48. HEN PHẾ QUẢN

- Biện chứng đông y: Phế tỳ khí hư, đờm đục không ra, khí đờm kết lại, bản ho tiêu thực.

- Cách trị: Bổ ích phế tỳ, tiêu đờm giáng khí.

- Đơn thuốc: Sâm giới tán gia vị.

- Công thức:

 Cáp giới (tắc kè)        2 con
(chặt bỏ đầu và chân)
Nhân sâm                      15g
 Sơn dược                    60g  Điền hạnh nhân            24g
 Trầm hương (loại tốt)    12g  Nhục quế (loại tốt)        12g
 Kinh bán hạ                 30g  Hoàng kỳ                     60g
 Tử bì hồ đào                60g  Sa bạch quả                30g
 Tang bạch bì                30g  Cam thảo                     15g

 Các vị trên tán mịn làm một liều thuốc gói kín để dùng dần: mỗi lần 4-6g, mỗi ngày 3 lần, uống với nước đun sôi để nguội. Với bệnh nhân chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng, thì bỏ bớt Nhục quế mà thêm Nữ trinh tử 30g, Câu kỷ tử 30g.

- Hiệu quả lâm sàng: Hơn 10 ca bệnh nhân hen phế quản dai dẳng đã dùng bài thuốc Sâm giới tán gia vị, đều đạt được kết quả điều trị tốt. Từ XX, nam, 45 tuổi, cán bộ. Đã hơn 4 nǎm bị những cơn hen xuyễn, nhiều đờm. Bốn nǎm trước sau khi mắc bệnh, cứ mỗi lần bị lạnh, hoǎcỷ ngửi phải khí than là lại lên cơn xuyễn. Khi lên cơn, ngực co rúm lại, khó thở, ho khạc ra đờm dính màu trắng thì cảm thấy có dễ chịu hơn. Bệnh tình mỗi nǎm một nặng thêm, các cơn hen ngày một xuất hiện nhiều và kéo dài hơn. Tây y chẩn đoán là hen phế quản. Đã dùng ephedrin, ainophylin, adrenalin, lúc đầu có hiệu quả khá tốt, nhưng sau đó cảm thấy hiệu quả chẳng được là bao. Một nǎm trở lại đây bệnh tình lại nặng thêm, cứ đến hai mùa hạ và thu là lại lên cơn hen nặng, sang mùa đông xuân thì cảm thấy đỡ hơn. Một nǎm nay, tây y cho dùng cortison mỗingày 3 lần, dùng liên tục dài ngày, vào vụ hè thu không ngày nào là không dùng, còn đồng thời dùng thêm khí dung cắt cơn hen, luôn mang theo người, hơi cảm thấy khó thở muốn ho là phải phun ngay. Bệnh nhân rất dễ bị cảm mạo, hơi bị lạnh là hắt hơi, nhức đầu, toàn thân khó chịu. Bệnh nhân không hút thuốc uống rượu nhiều, đại tiện bình thường. Sắc mặt trắng bệch, lưỡi nhạt rêu trắng, lục mạch trầm hoãn. Chứng thuộc thái âm hư xuyễn, khí đờm kết lại thǎng giáng bất lợi. Cần trị bằng cách khi bệnh phát cơn thì trị triệu chứng, lúc bình thường thì chữa cǎn nguyên, cả hai mặt cùng chữa trị, lưỡng bố phế tỳ. Vẫn thường xuyên dùng cortison khí dung để chống lên cơn. Đồng thời dùng "Sâm giới tán gia vị" đại bổ phế tỳ, tiêu đờm giáng khí, phù chính cố bản để chữa trị tận gốc. Uống liền 4 liều "Sâm giới gán gia vị", sau 4 tháng ngừng dùng tất cả các loại thuốc tây y, tinh thần sảngkhoái, sức lực dồi dào, thể chất tǎngcường. Dùng bài thuốc này tiếp tục được 1 nǎm thì ngừng tất cả các loại thuốc. Hỏi thǎm thấy 3 vụ hè thu bệnh không tái phát.

- Bàn luận: Thông qua thực tiễn lâm sàng thấy rõ ràng "Sâm giới tán gia vị' có tác dụng làm thay đổi phản ứng của cơ thể, điều tiết hormon. Trong quá trình phối hợp điều trị cùng với các thuốc tây y, dần dần phải giảm bớt hormon và thuốc chỉ suyễn, lúc đầu thì càng chậm càng ít càng tốt, cho tới khi hoàn toàn không dùng tới các loại thuốc tây y này. Sau đó lại giảm dần cả liều dùng "Sâm giới tán gia vị', cách tiến hành gồm có giảm dần số lần uống thuốc và giảm dần lượng thuốc uống mỗi lần, cho đến khi hòan toàn không dùng thuốc nữa. Cả quá trình này cần kéo dài từ nửa nǎm tới 1 nǎm.

 

49. HEN PHẾ QUẢN

- Biện chứng đông y: Can khí uất kết, khí cơ không điều hòa được, tạo thành khí nghịch không giáng được dâng khí lên thành xuyễn.

- Cách trị: Giải uất tiết nhiệt, điều can giáng nghịch.

- Đơn thuốc: Ngũ ma ẩm hợp tứ nghịch tán gia giảm.

- Công thức:

 Trầm hương 6g  Ô dược 10g
 Nhục quế 4g  Hoàng liên 9g
 Mộc hương 6g  Sài hồ 12g
 Đại bạch phụ 12g  Chỉ xác 12g
 Hàng thược 20g  Cam thảo 6g

Đem Hoàng liên và Hàng thược sắc trước lấy nước, sau dùng ngay nước thuốc này xay những vị khác còn lại cho thật nhỏ. Sau đó lại đem tất cả sắc nhỏ lửa lấy nước mỗi ngày uống 1 thang chia làm 4 lần.

- Hiệu quả lâm sàng: lý XX, nữ, 21 tuổi, xã viên. Ba nǎm trước bị cảm kéo dài hơn 1 tháng mới khỏi. Sau khi khỏi vẫn cảm thấy tức ngực, họng không thông. Ngay khi đó không được điều trị dứt điểm, sau đó sinh suyễn, mỗi nǎm đến kỳ qua xuân sang hè hoặc sau khi tức giận, bực bội là bệnh lại càng thêm nặng. Khi lên cơn hen không nằm thẳng trên giường được, ho ra đờm không nhiều, đã dùng nhiều cách điều trị mà vẫn không dứt được cơn hen. Khi đã qua cuối xuân đầu hè, hoặc khi hết tức giận bực bội thì các triệu chứng tự giảm hết. Lần này cơn hen đã kéo dài 5 ngày, do bực tức chuyện gia đình mà tái phát. Tại bệnh viện đã tiến hành xét nghiệm máu, nước tiểu phân đều bình thường. Chiếu điện thấy hai phổi sáng rõ, tim phổi bình thường. Chẩn đoán: 1/Hen phế quản, 2/Bệnh do lo nghĩ. Họng bệnh nhân có tiếng đờm khò khè. Suyễn khó thở không nằm được, tức ngực, nấc, bụng đầy không muốn ǎn uống. Đã dùng kháng sinh, aminophylin, nhưng chỉ có thể tạm thời giảm cơn, cũng có dùng liệu pháp ám thị nhưng không kết quả. Mạch hoãn huyền hữu lực, lưỡi nhạt rêu mỏng. Cho uống "Ngũ ma ẩm hợp tứ nghịch tán gia giảm". Sau khi uống 1 tuần bệnh tình đã đỡ, cơn tái phát nhẹ đi, thời gian lên cơn ngắn lại, đã hết tức ngực, nấc. Tiếp tục cho dùng bài thuốc này, thêm Sạ can 10g, cùng đem sắc với Hoàng liên, Hàng thược rồi xay với các vị khác, uống được hơn 1 tháng thì bệnh khỏi hẳn.

- Bàn luận: Hen suyễn là do sự bất thường của việc thǎng giáng, ra vào của khí gây ra. Bệnh nhân lúc thường là người khỏe mạnh, không có biểu hiện hư khí cho nên dùng Ngũ ma ẩm để điều khí giáng nghịch, làm thông đạt khí cơ dùng tứ nghịch tán để sơ can giải uất, điều hòa can vị, làm cho trên dưới điều hòa, khí cơ không bị trở ngại, không trị suyễn mà suyễn sẽ phải lui. Hai bài thuốc này không phải chủ trương trị suyễn, nhưng khi dùng kết hợp lại tác động đúng vào cơ chế sinh bệnh, bản chất là trị cǎn nguyên mà khỏi tiêu chứng bệnh. Dùng nước sắc Hoàng liên v.v... để xay các vị còn lại là vì các vị thuốc này hàm chứa nhiều khí vị, xay ra sẽ thu được đầy đủ khí vị, không làm mất đi tí nào, sau đó đem sắc nhỏ lửa làm cho khí vị thuần hòa, phát huy được đầy đủ tác dụng của các vị thuốc. Phương pháp xay (ma pháp) thường bị người sau xem nhẹ, người thầy thuốc cần nghiên cứu kỹ nguyên lý chế thuốc để hiểu ý của cố nhân xây dựng bài thuốc.

 

50. HEN PHẾ QUẢN

- Biện chứng đông y: Đàm hỏa phạm phế, ứ tắc phế khiếu, phế không túc giáng được.

- Cách trị: Thanh nhiệt hóa đàm, tuyên phế lợi khí.

- Đơn thuốc: Gia vị tiền hồ thang.

- Công thức:

 Tiền hồ                    12g  Hạnh nhân                 9g
 Tang diệp                 12g  Tri mẫu                    12g
 Mạch đông                9g  Hoàng cầm                9g
 Kim ngân hoa          15g  Khoản đông hoa        9g
 Tỳ bà diệp               12g  Cát cánh                   9g
 Cam thảo                  6g  

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang (kiêng ǎn các thứ tanh, cay)

- Hiệu quả lâm sàng: Khang XX, nữ, 26 tuổi, cán bộ. Ngày 5-3-1970 tới khám. Bệnh nhân bị ho xuyễn đã mấy tháng, trong cổ họng có tiếng đờm rít, khó thở, đờm vàng quánh, đau tức cả vùng ngực, miệng khát bực bội, mặt đỏ, môi đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác hữu lực, bệnh thuộc về đờm hỏa phạm phế, làm ứ tắc phế khiếu, phế không còn chức nǎng túc giáng, khí đạo không lợi mà dẫn đến xuyễn. Khám tây y chẩn đoán là hen phế quản. Cần trị bằng phép thanh nhiệt hóa đờm, tuyên phế lợi khí. Cho uống 'Gia vị tiền hồ thang". Bệnh nhân uống 4 thang, mạch chuyển hoãn hoạt, rêu lưỡi đã khá hơn nhiều, đờm chỉ còn hơi vàng, không quánh, hết đau ngực, dễ thở, hết xuyễn. Như vậy là đàm hỏa đã tán, khí đạo đã lợi. Lại cho uống tiếp bài thuốc này, bỏ bớt Khỏan đông hoa, thêm Thiên hoa phấn 12g. Uống tiếp 5 thang thì bệnh khỏi hẳn.

- Bàn luận: Trường hợp này các triệu chứng đều thuộc về đàm hỏa bị bế tắc mà quá vượng, "Nhiệt giả hà chi", trị liệu cùng các vị khổ hàn và vi tân cam của thang tiền hồ để thanh nhiệt hóa đàm, dùng vị Cát cánh để đưa lên phía trên, cho tới được phế tạng. Khỏan đông hoa tả nhiệt nhuận phế, tiêu đờm, trừ bỏ bực bội, cầm ho. Tỳ bà diệp tả phế giáng hỏa, cho nên uống 4 thang thì hỏa tán đờm tiêu, hết xuyễn. Lại dùng bài thuốc này bỏ bớt Khỏan đông hoa, thêm Thiên hoa phấn để lấy tác dụng toan cam vi khổ hàn của nó để sinh tân nhuận phế, phục hồi phế âm đã bị đàm hỏa làm thương tổ. Vì vậy chỉ dùng thêm 5 thang bệnh cũ đã được trị khỏi hoàn toàn.

 

51. HEN PHẾ QUẢN

- Biện chứng đông y: Thận khí hư, đờm lạnh trở ngại đến phổi.

- Cách trị: Tả phế ích thận nạp khí.

- Đơn thuốc: Gia vị thận khí thang.

- Công thức:

 Thục địa                  15g  Hoài sơn                  15g
 Phục linh                 15g  Câu kỷ                       9g
 Trạch tả                     9g  Đơn bì                       9g
 Phụ tử                       9g  Đả tinh                       9g
 Đình lịch tử                9g  Nhục quế tâm            3g
(uống riêng).

 

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Vương XX, nam, 63 tuổi, cán bộ. Đến khám từ tháng 2-1977. Bệnh nhân bị hen phế quản đã hơn 20 nǎm. Từ nǎm 1960 mỗi nǎm một nặng thêm nhất là nǎm cuối này bệnh lại càng nguy kịch. Bệnh nhân bị tức ngực, thở dốc, hơi ngắn, nhất là khi hoạt động, không nằm thẳng được, lên cầu thang rất khó khǎn. Đờm nhiều, trong có rất nhiều bọt, mạch tế huyền hoãn lưỡi đỏ nhạt, hai mép lưỡi sẫm, rêu trắng hơi dầy. Cho uống "Gia vị thận khí thang". Uống 3 thang, đã có thể nằm thẳng được, lên cầu thang không thở dốc. Bệnh nhân tin tưởng, uống tiếp hơn 20 thang nữa. Cuối nǎm1979 thǎm lại thấy sau khi dùng thuốc bệnh đã đỡ, tình trạng sức khỏe tốt. Bệnh nhân đã lên Bắc Kinh họp còn đi tham quan khảo sát ở Anh, không thấy bệnh tái phát.

- Bàn luận: Ngoài trường hợp nêu trên, đã dùng bài thuốc này có gia giảm để chữa cho mấy trường hợp hen suyễn khác đều có kết quả tốt. Trong đó có 1 trường hợp hen kèm tǎng tế bào ái toan, cũng đạt kết quả điều trị tốt. Trường hợp này cho dùng bài thuốc trên, bỏ Đình lịch tử, thêm Địa long can 9g, Hùng hoàng 0,6g (uống riêng).

 

52. HEN PHẾ QUẢN KÈM GIÃN PHẾ NANG

- Biện chứng đông y: Thận hư phế thực, trên thịnh dưới hư.

- Cách trị: Bổ thận nạp khí, lý phế bình xuyễn.

- Đơn thuốc: Bổ thận lý phế thang.

- Công thức:

 Thục địa                  24g  Sơn dược                30g
 Phục linh                 15g  Ma hoàng                  9g
 Hạnh nhân                9g  Tô tử                       15g
 Đảng sâm               24g  Đương qui               15g
 Ngũ vị tử                   9g  Bổ cốt chỉ                30g

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. Người đờm ít không thông lợi thì thêm Tang bì 12g, Đông qua tử 30g, ngực đầy tắc, gặp lạnh nặng lên thì thêm Can khương 6g, Quế chi; nhiều đờm hoặc tiêu hóa không tốt thì thêm Trần bì 12g, Bạch truật 10g, miệng khô, lòng bàn tay bàn chân nóng mạch tế sác thì bỏ Bổ cốt chỉ, Thục địa, thêm Địa cốt bì 30g.

- Hiệu quả lâm sàng: Hạ XX, nam, 37 tuổi, cán bộ. Sơ chẩn ngày 9-12--1972. Bệnh mắc đã 7-8 nǎm, hai nǎm nay nặng lên rõ rệt. Triệu chứng là ngực đầy tắc, hen suyễn, thở gấp, mỗi ngày lên cơn hen mấy lần. Ho nhiều, đờm nhiều, thở ngắn, hơi hoạt động thì hen đã nặng lên, dạ dày đầy chướng, tiêu hóa kém. Vì hen nhiều mà ảnh hưởng đến giấc ngủ. Đã nhiều nǎm dùng thuốc đông tây y mà chưa thấy kết quả. Hiện nay hàng ngay không lúc nào bỏ được aminophylin. Kiểm tra kỹ xác định chẩn đoán là hen phế quản kèm giãn phế nang. Biện chứng qui là thận không nạp khí, hàn ngưng khí trệ, phế khí ứng tắc đến nỗi phát hen. Nên dùng phép bổ thận nạp khí lý phế bình suyễn. Cho đơn "Bổ thận lý phế thang". Uống thuốc xong thấy bệnh tình thuyên giảm, uống hết 7 thang đã bỏ được aminophylin. Lại uống 9 thang nữa trên lâm sàng cơ bản đã kiểm soát được các triệu chứng, không thấy hen nữa, thở đều đặn. Lại uống hơn 10 thang nữa để củng cố, 8 nǎm sau hỏi lại chưa thấy bệnh tái phát.

 

238. HISTERIA (ý bệnh)

- Biện chứng đông y: Nhiệt tà nội kết, nhiễu loạn thần minh.

- Cách trị: Dưỡng âm trừ nhiệt, giải uất trừ phiền.

- Đơn thuốc: Gia vị chi tử xị thang.

- Công thức:

 Sinh chi tử                  9g  Đạm đậu xị              115g
 Mạch môn đông       10g  Quảng uất kim          10g
 Thạch xương bồ      10g  Đạm trúc diệp             5g
 Chích cam thảo         6g  

Sắc uống, mỗi ngày một thang. Người thực nhiệt thì thêm Đại hoàng, Chỉ thực, Hậu phác, người can dương mạnh thì thêm Sinh thạch cao, Cúc hoa, Tang diệp, Kỷ quả, người đờm thấp thịnh thì thêm Đảm nam tinh, Quất hồng, Bạch phục linh; người âm hư nội nhiệt thì thêm Toan táo nhân, Sinh a giao, Sinh kê tử hoàng.

- Hiệu quả lâm sàng: Triệu XX, nữ, 46 tuổi, nông dân, sơ chẩn ngày 6-5-1976. Bệnh nhân kể là mắc bệnh đã 8 nǎm, lên cơn từng đợt. Mỗi lần phát bệnh thì tâm phiền, tinh thần rối loạn, hai mắt nhắm lại, rǎng cắn chặt, cứ thế kéo dài 3-5 ngày đến hơn 10 ngày. Lúc tinh thần bị kích động thì phát bệnh luôn luôn. Mỗi lần bệnh phát thì đại tiện bí kết, thường ba ngày đi ngoài một lần, tiểu tiện vàng. Đã từng uống nhiều thứ thuốc trấn tĩnh và thuốc tây, chưa thấy kết quả tốt. Khám thấy thể chất người bệnh tốt, tinh thần u uất, trí lực bình thường, chất lưỡi ở rìa và đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi ở giữa thì vàng, mạch trầm huyền có lực.

Chẩn đoán lâm sàng là histeria. Đây là vì uất nhiệt kết lại bên trong, lên phạm thần minh. Cần trị bằng phép dưỡng âm thanh nhiệt, giải uất trừ phiền. Chúng tôi đã dùng "Gia vị chi tử xị thang", trong bài này lại cho thêm Đại hoàng (chế rượu) 10g, Chỉ thực (sao) 9g, Hậu phác (chế gừng) 9g. Cả thảy gia giảm thêm bớt uống hơn 20 thang, bệnh khỏi hết.

Trương X.X, nữ, 50 tuổi, cán bộ, sơ chẩn ngày 33-2-1975. Bệnh nhân cho biết đã mắc bệnh tới 10 nǎm, lúc phát bệnh thì nặng đầu, tức ngực tâm phiền, sau đó rǎng cắn chặt, đờm dãi sùi ra, tinh thần không tỉnh táo, tay chân lạnh, hai tay nắm chặt, sau khi khóc to thì các chứng lui dần. Thỉnh thoảng vì tinh thần không thư thái bệnh lại lên cơn, mỗi lần cơn bệnh kéo dài trên dưới 2 giờ. Kinh nguyệt bình thường, ngoài ra không thấy có gì đặc biệt. Chẩn đoán lâm sàng là histeria. Cho dùng gia vị "Chi tử xị thang", bỏ Mạch môn đông, thêm Bạch biển đậu 21g, Đảm nam tinh 6g, Mao quất hồng 12g, Bạch phục linh 30g, Đại táo 3 quả; dùng thuốc khoảng 30 thang, bệnh khỏi hẳn chưa thấy tái phát.

 

130. HÔN MÊ GAN MẠN TÍNH

- Biện chứng đông y: Khí huyết đều hư, dư nhiệt ở can đởm chưa hết, thấp đờm, che khiếu.

- Cách trị: Điều bổ khí huyết, phương hóa đàm thấp, thanh can khai khiếu.

- Đơn thuốc: Gia vị thanh can khai khiếu thang.

- Công thức:

 Sinh kỳ                        15g  Đương qui                   10g
 Xích thược                  15g  Bạch thược                 15g
 Hà thủ ô                      30g  Nhân trần                    15g
 Hoắc hương                10g  Bội lan                         10g
 Hạnh nhân                  10g  Quất hồng                   10g
 Uất kim                        10g  Viễn chí                       10g
 Xương bồ                    10g  Xuyên liên                  4,5g
 Hổ phách phấn          1,2g
(chiêu với nước thuốc)
 Linh dương phấn       0,6g
(chiêu với nước thuốc)

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Lưu XX, Nam 37 tuổi. Khám lần đầu ngày 30-5-1975. Nǎm 1972 người bệnh do xơ gan phải mổ cắt lách. Quá trình phẫu thuật tốt đẹp. Nhưng sau đó dần dần mất ngủ, đến mức suốt đêm không chợp mắt được, nghiêm trọng hơn có khi liên tục mười mấy ngày đêm không ngủ được yên giấc. Dần dần ban đêm lên cơn lưỡi, môi trên tê dại, hai cánh tay không nhấc cao được, mỗi lần kéo dài hơn 10 phút. Sau đó từng có những động tác vô ý thức, nói lảm nhảm, ban ngày đầu váng, nhức, trí nhớ rất kém, mất khả nǎng suy nghĩ, nôn nóng dễ cáu gắt, chảy máu cam, mắt nhìn không rõ, đại tiện khó khǎn, phân rắn. Đã dùng nhiều loại thuốc tây và đông dược, châm cứu, lý liệu, thủy châm, nhĩ châm liền trong hơn 2 nǎm mà không kết quả. Khi đến khám, tay phải và mặt tê dại, quá trưa hai tay không nhấc lên được, mất ngủ, đêm ra mồ hôi trộm, đôi khi có trạng thái lơ mơ. Bình thường miệng mũi khô, 3-4 ngày mới đại tiện một lần. Kiểm tra máu: transaminase glutamic 180 đơn vị, amoniac huyết 0,18 mg%, lưỡi rêu vàng, mạch trầm, huyền. Cho uống Gia vị thanh can khai khiếu thang. Lấy bài thuốc này làm chính, vì ngủ không yên giấc nên thêm Táo nhân 15g, Bách hợp 12g, Hợp hoan bì 12g, tổng cộng tất cả uống trên dưới trǎm thang, ngày càng ngủ được tốt hơn, về cơ bản hết các chứng váng đầu, hồi hộp, dễ cáu v.v... nhìn các vật rõ ràng, trí nhớ và khả nǎng suy nghĩ có phần phục hồi. Lưỡi rêu mỏng trắng, mạch trở nên trầm, hoạt, transaminase glutamic bình thường, amoniac huyết giảm còn 0,1mg%. Qua hỏi thǎm, nửa nǎm sau vẫn không tái phát.

 - Bàn luận: Hôn mê gan mạn tính phần nhiều gặp ở các trường hợp xơ gan bản thân gan và chức nǎng gan tổn thương, quá trình mạn tính phát triển, đến giai đoạn sau chức nǎng gan suy kiệt, mất khả nǎng bù, xuất hiện chứng bệnh thuộc hệ thần kinh, đến giai đoạn cuối có thể hoàn toàn hôn mê. Bệnh nhên loại này phần nhiều là do bệnh lâu ngày chuyển thành "hư", khí huyết không đủ, âm dương đều thương tổn, can âm không đủ, huyết không muối can, hư phong nội đồng, ngoài ra thấp độc nhiệt tà ẩn náu trong phần huyết phát triển thêm kích động hư phong, tà chính tranh chấp, dẫn đến có lơ mơ, bực bội dễ tức giận, nhìn mọi vật không rõ, đầu váng, hay quên, mệt mỏi thích nằm, dạ dày đầy cǎng đau, ǎn không thấy ngon v.v... hơn nữa nhiều trường hợp do uất ức lo lắng, tức giận hoặc lao động quá sức mà đàm che, làm tắc khiếu, dẫn đến hôn mê. Tổng quát, phương pháp điều trụ là phải bổ hư phù chính. tinh thần khai khiếu làm chủ, phụ thêm là thành lợi dư tà.

 

79. HUYẾT ÁP THẤP

- Biện chứng đông y: Khí âm đều hư.

- Cách trị: ích khí dưỡng âm.

- Đơn thuốc: Gia vị phù chính thǎng áp thang.

- Công thức:

 Nhân sâm              10g  Mạch đông                    15g
 Ngũ vị tử               12g  Sinh địa                   20-30g
 Chính cam thảo    15g  Trần bì                          15g
 Chỉ xác                  10g  Hoàng kỳ                      30g
 A giao 15g (nấu chảy uống)  

Nhân sâm 10g (có thể thay bằng Nam ngũ gia bì 15g)
Sắc uống, mỗi ngày một thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Nguỵ XX, nữ, 49 tuổi, thường thể tạng huyết áp thấp, nói chung vẫn giữ trong khoảng 100-90/60-50 mmHg. Mệt nhọc hoặc trèo lên cao, hoạt động mạnh thì thấy đầu váng, tim hỏang loạn, thở dốc. Một tháng nay, bệnh càng nặng thêm, hai lần ngất. Ngày 13-8-1979 sơ chẩn khám: nói chung tình trạng khá, thân thể gầy gò, sắc mặt vàng võ, tim đập 94 lần/phút, nhịp đều, lưỡi nhạt, đầu lưỡi đỏ, rêu bình thường, mạch tế nhược, huyết áp 86/56mmHg. Cho dùng "Gia vị phù chính thǎng áp thang", uống được ba thang thì các chứng đỡ rõ rệt.

Nguồn tin: Viện thông tin thư viện y học trung ương

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây