Phúc Tâm Đường

https://phuctamduong.com


THIÊN GIA DIỆU PHƯƠNG: Các bệnh vần Đ

.

.

“ Thiên gia diệu phương” có thể hiểu là “Những bài thuốc hay của đông đảo thầy thuốc” là một cuốn sách giới thiệu nhiều bài thuốc (cổ phương, tân phương, dân gian, gia truyền) dùng chữa những bệnh thường gặp nhưng chữa chạy không dễ dàng…Do đó, ngoài khái niệm và thuật ngữ của y dược học cổ truyền còn có khái niệm và thuật ngữ của y học hiện đại và cả 2 giới y dược cổ truyền và hiện đại đều có thể tìm thấy ở đây những kinh nghiệm bổ ích về y dược. (GS Hoàng Bảo Châu)

170. ĐÁI DẦM

- Biện chứng đông y:
Thận khí bất cố.

- Cách trị: Bổ thận ích khí cố nhiếp.

- Đơn thuốc: Gia vị tang phiêu tán (thang).

- Công thức:

 Đảng sâm               15g  Tang phiêu tiêu          15g
 Viễn chí                 4,5g  Phục thần                 15g
 Ngũ vị tử                  6g  Ô dược                      6g
 Sơn dược              12g  Thạch xương bồ         6g
 Miết giáp                12g  Đương qui                  9g
 Thỏ ti tử                 12g  ích trí nhân               15g
 Đoạn long cốt         12g  Đoạn mẫu lệ             12g
 Bổ trung ích khí hoàn 30g
(bao)
 

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Cao X, 16 tuổi, sơ chẩn ngày 12-3-1973. Bệnh nhân từ nhỏ đã đái dầm, nay đã hơn 10 nǎm, rất khổ tâm, xin chẩn trị, chữa theo thận khí bất cố, dùng "Gia vị tang phiêu tán". Uống liền 7 thang, khỏi hẳn đái dầm.

 

168. ĐÁI KHÔNG KÌM ĐƯỢC

- Biện chứng đông y: Thận khí bất túc, thận dương suy vi, bàng quang thất ước.

- Cách trị: Bổ ích thận khí, ôn bổ thận dương.

- Đơn thuốc: Củng đề thang gia giảm.

- Công thức:

 Bổ cốt chỉ                 20g  Cữu tử                     15g
 Thỏ ti tử                    20g  Bạch truật                15g
 Phục linh                  15g  Phụ tử                     15g
 Quế chi                    10g  Ba kích                    20g
 Đảng sâm                 15g  Thục địa                  20g
 Ích trí nhân               10g  Sa nhân                     8g

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Hầu XX, nữ, 73 tuổi, sơ chẩn ngày 16-10-1977. Kể tiểu tiện không kìm được đã 4 nǎm. Trước đó 4 nǎm bệnh nhân đi đái vặt không rõ nguyên nhân, nước tiểu trong, lưng đau, đùi yếu, ho nhiều thở ngắn, toàn thân mệt mỏi, tay chân lạnh, sợ rét, sau đó bệnh tình tǎng dần, tiểu tiện không kìm được, có nước tiểu là rỉ không kể ngày hay đêm, ba nǎm nay chưa từng vào nhà vệ sinh đi tiểu, rất khổ sở. Khám thấy mặt trắng bệch, ủ rũ, nói yếu, lưỡi nhạt rêu trắng mỏng, mạch trầm nhược, hai mạch xích càng nhược. Đây là thận khí bất túc, thận dương suy vi, bàng quang không chế ước được, phải trị bằng phép bổ ích thận khí, ôn bổ thận dương. Dùng bài "Củng đề thang gia giảm". Uống được 5 thang, bệnh tình cải thiện rõ rệt. Uống tiếp bài trên gia giảm, tất cả 16 thang thì khỏi bệnh.

- Bàn luận: Thận là gốc của tiên thiên, là nguồn sinh đẻ phát dục của con người có quan hệ mật thiết với các tổ chức phủ tạng khác. Thận với bàng quang có quan hệ biểu lý với nhau, sự đóng mở của bàng quang do thận quản lý, dựa vào sự khí hóa của thận cho nên nói là "thận tư nhị tiện", vậy. Chỉ cần thận khí đầy đủ chức nǎng khí hóa bình thường thì bàng quang đóng mở bình thường, thận khí mà hư, khí hóa không tốt ắt bàng quang không chế ước được, cho nên tiểu tiện nhiều lần, thậm chí không kìm được. Khí là dương, nếu thận khí hư nhược, tất nhiên dẫn đến chỗ thận dương bất túc, cho nên sinh ra một loạt các biểu hiện hư hàn như ghê lạnh, mặt bệch, lưỡi nhạt, mạch trầm. Do đó có thể thấy bệnh này tuy ở bàng quang mà gốc lại ở thận. Trị bệnh phải dựa trên nguyên tắc tìm đến gốc do đó phải bổ ích thận khí, ôn bổ thận dương, thận khí khôi phục được, thận dương bổ được, thì chứng bàng quang thất ước tự khỏi. Trong bài thuốc có Cốt chỉ, Cữu tử. Thỏ ti tử, Ba kích, Thục địa đều là các thứ bổ thận, Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh để ích khí kiện tì, phù thổ chế thủy, Phụ tử, Quế chi ôn bổ thận dương, lại thêm Sa nhân để ngừa vị ngọt ngậy của các thuốc. Phép chữa và thuốc tương ứng với nhau làm các chứng đều tan, bệnh khỏi nhanh.

 

169. ĐÁI KHÔNG KÌM ĐƯỢC ( Tiểu Không Tự Chủ)

- Biện chứng đông y: Thận khí hư, bàng quang thất ước.

- Cách trị: Bổ thận cố nhiếp

- Đơn thuốc: Gia vị Bổ Trung Ích Khí Thang.

- Công thức:

 Hoàng kỳ                   12g  Ích trí nhân                  9g
 Sài hồ                      4,5g  Đảng sâm                  12g
 Tang phiêu tiêu            9g  Trần bì                      4,5g
 Đương qui                  9g  Phúc bồn tử               12g
 Thǎng ma                 4,5g  Cam thảo                     6g
 Bạch truật                   9g  

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Trịnh XX, nữ, 30 tuổi, sơ chẩn ngày 20-12-1971. Bệnh nhân mặt trắng bạch, không tự kiềm chế tiểu tiện được, mạch yếu, rêu lưỡi mỏng. Sau khi khám cho dùng 'Gia vị Bổ Trung Ích Khí Thang'. Uống liền 5 thang, sắc mặt người bệnh trở lại bình thường, các chứng giảm. Duy vẫn còn mạch yếu, rêu lưỡi mỏng. Bài thuốc trên có gia giảm uống thêm 5 thang để củng cố hiệu quả.

- Bàn luận: Dùng bài thuốc Trung ích khí thang thêm Tang phiêu tiêu, Phúc bồn tử, ích trí nhân để bổ thận cố nhiếp nên kết quả nhanh chóng.

 

173. ĐÁI MÁU DƯỠNG CHẤP (bệnh giun chỉ)

- Biện chứng đông y: Thấp nhiệt hạ trú.

- Cách trị: Thanh nhiệt, thông lâm, kiện tì hóa trọc.

- Đơn thuốc: Dưỡng trấp niệu thang.

- Công thức:

 Tì giải                     30g  Hải kim sa               30g
 Vân linh                  18g  Thạch vi                  30g
 Biển súc                 15g  Bạch mao cǎn         30g
 Hạn liên thảo           15g  Lục nhất tán            15g
 Bạch truật               12g  Trư linh                   12g

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

 

171. ĐÁI MÁU (chưa rõ nguyên nhân)

- Biện chứng đông y: Nhiệt ở hạ tiêu, tổn thương huyết lạc.

- Cách trị: Thanh nhiệt tả hỏa chỉ huyết.

- Đơn thuốc: Gia vị xích tiểu đậu đương qui tán (thang).

- Công thức:

 Xích tiểu đậu         30 - 45g  Đương qui               9 - 12g
 Mã xỉ hiện                     30g  

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Trần XX, nữ, 26 tuổi đã có chồng, nǎm tháng nay liên tục xét nghiệm nước tiêu thấy hồng cầu (+) đến (+++), có lúc hơi có albumin. Lúc đầu qua xét nghiệm chẩn đoán là viêm bàng quang, lúc đó đau lưng và tiểu tiện nóng rát, sau đó các chứng trên đều hết nhưng soi kính thấy máu trong nước tiểu vẫn còn chưa hết. Chụp X quang vùng bụng, chụp tĩnh mạch bể thận, nuôi cấy nước tiểu, kiểm tra tìm được trực trùng kháng acid trong nước tiểu 24 giờ, tất cả đều không thấy gì khác thường. Đã 5 tháng, chạy chữa bằng nhiều thứ thuốc đông tây y chưa thấy kết quả. Đến chẩn trị, kiểm tra thấy trong nước tiểu albumin (-) có một ít bạch cầu, nhiều hồng cầu (+++), ngoài ra không có gì đặc biệt. Cho dùng "Gia vị xích tiểu đậu tương qui tán" (thang), uống được 6 thang, kiểm tra lại các xét nghiệm nước tiểu đã bình thường, Dặn bệnh nhân cứ theo bài trên tiếp tục uống 1 tháng nữa để củng cố. Đã nhiều lần xét nghiệm nước tiểu, trừ một vài lần ngẫu nhiên thấy 0-3 hồng cầu, tất cả đều tốt.

 

172. ĐÁI MÁU (không rõ nguyên nhân)

- Biện chứng đông y: Khí huyết đều suy, khí không thống huyết.

- Cách trị: Bổ khí nhiếp huyết, dưỡng huyết chỉ huyết.

- Đơn thuốc: Huyết Lâm An Dật Thang.

- Công thức:

 (Hồng) nhân sâm           6g  Bắc hoàng kỳ              15g
 Toàn đương qui           10g  (Tỉnh) địa long             10g
 Tiêm mao cǎn              15g  (Phấn) cam thảo           3g

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Dịch XX, 72 tuổi, cán bộ hưu, sơ chẩn ngày 5-8-1963. Đã 7 nǎm bệnh nhân tiểu tiện có máu, tái phát mỗi nǎm 3-4 lần, mỗi lần khoảng 20-25 ngày, mỗi lần đều không rõ nguyên nhân. Mỗi lần như thế, tiểu tiện màu đỏ, rỏ giọt mãi khó hết. Đã chẩn trị ở bệnh viện, đã soi bàng quang và chụp ngược dòng, không tìm ra nguyên nhân đái máu, điều trị mãi không khỏi. Khám thấy mạch hư nhược, chất lưỡi nhạt bệu non, rêu trắng mỏng, sắc mặt không bóng. Đó là khí huyết đều suy, khí bất thông huyết, cần chữa bằng phép bổ khí nhiếp huyết dưỡng huyết chỉ huyết. Cho dùng "Huyết lâm an dật thang". Uống được 5 thang, hết đái máu, ǎn được. Tuy vậy tinh thần còn kém, mạch và lưỡi vẫn như trước. Đổi dùng Bát chân thang thêm Hoàng kỳ, cho uống 20 thang, điều lý củng cố. Ba nǎm sau hỏi lại nói là sau khi dùng thuốc chưa tái phát.

- Bàn luận: Bệnh nhân già quá tuổi bẩy chục, người hư nhược, khí huyết đều suy, khí chẳng thống huyết, cho nên đái ra máu không dừng, đến nỗi cả khí lẫn huyết đều suy cho dùng bài thuốc kinh nghiệm "Huyết lâm an dật thang", trong đó coi trọng Hồng sâm, Hoàng kỳ để bổ khí huyết, phối hợp với Đương qui để dưỡng huyết hoạt huyết; Địa long, Mao cǎn để lương huyết chỉ huyết; Cam thảo để điều hòa các thuốc, như vậy chữa cả gốc lẫn ngọn và đã cầm được máu, sau lại dùng Bát trân thang gia vị, cùng bổ cả khí lẫn huyết để tốt về sau, làm cho bệnh lâu ngày cũng khỏi.

 

26. ĐÁI THÁO NHẠT

- Biện chứng đông y: Tinh khí khuyết tổn, hạ tiêu hư nhược, sự thu nạp của thận không giữ được điều hòa, hạn chế vô quyền.

- Cách trị: Tư âm bổ thận, ích khí sinh tân.

- Đơn thuốc: Gia giảm tam nhân lộc nhung hoàn.

- Công thức:

 Đại thục địa               15g  Chích hoàng kỳ            12g
 Ngũ vị tử                      6g  Hoài sơn dược             30g
 Mạch đông                 18g  Sơn thù nhục                 9g
 Nguyên sâm                18g  Bổ cốt chỉ                      9g
 Địa cốt bì                      6g  Nhân sâm                    4,5g
 Kê nội kim phấn (sao)    3g
(chia 2 lần uống với nước thuốc)
 Lộc nhung phấn              1g
(chia 2 lần uống với nước thuốc)

 Mỗi ngày 1 thang, sắc với nước 2 lần lấy 400ml nước thuốc chia uống 2 lần. Mỗi tuần uống 6 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Bàng XX, nam, 34 tuổi. Vào viện điều trị ngày 18-5-1964. Mắc bệnh từ nǎm 1963, lúc đầu miệng khô khát, uống nhiều, tiểu tiện nhiều, nước tiểu đục, thân thể mỏi mệt, sau đó bệnh tình ngày càng nặng, mỗi ngày uống tới hơn 10 bình nước, đã uống hơn 80 thang thuốc đông y mà bệnh không khỏi. Càng ngày bệnh nhân càng gầy, thể trọng trước đây nặng 65kg, tụt dần xuống 52,5kg. Tháng 3 nǎm 1963 vào viện điều trị 2 tháng, chẩn đoán là đái tháo nhạt, cho tiêm Pituitrin, lượng nước tiểu giảm rõ rệt, đỡ khát nước, nhưng kết quả điều trị này không được củng cố. Tháng 5 đến khám lại một bệnh viện tỉnh, vẫn chẩn đoán là đái tháo nhạt. Khám thấy bệnh nhân miệng khô cổ khát, lại kèm váng đầu, mệt mỏi, tức ngực, ra mồ hôi trộm, trong quá khứ lại đã bị di tinh, mặt hơi đỏ, chất lưỡi đỏ sẫm, rêu trắng hơi vàng, mạch bên trái tế nhược, mạch bên phải tế huyền. Một ngày uống tới 4,1 lýt nước, lượng nước tiểu lên tới hơn 4 lýt. Xét nghiệm thành phần máu bình thường, tỉ trọng nước tiểu 1,002, đường niệu âm tính. Hội chẩn cả mạch và chứng có thể thấy bệnh thuộc chứng tinh khí khuyết tổn, hạ tiêu hư nhược, sự thu nạp của thận không giữ được điều hòa, hạn chế vô quyền. Phải trị bằng tư âm bổ thận, ích khí sinh tân. Cho dùng "Gia giảm tam nhân lộc nhung hoàn". Bệnh nhân uống được 18 thang, đỡ khô miệng, mất các chứng váng đầu, ra mồ hôi trộm, lượng nước tiểu đã giảm xuống 3,6 lýt, như vậy là thuốc đã trúng bệnh. Tuy nhiên lượng nước uống mỗi ngày vẫn còn cao tới 4 lýt, lại tái phát di tinh, 4-5 ngày bị một lần. Lại cho dùng bài thuốc trên nhưng giảm Nguyên sâm, Mạch đông xuống còn 12g, bỏ Phục linh, Ngưu tất, thêm Tang phiêu tiêu 12g, Kim tỏa cố tinh hoàn 18g (sắc cùng). Dùng thêm 33 thang, không thấy tái phát di tinh, thể lực tǎng cường, lượng nước uống mỗi ngày giảm tới 3,1lýt, lượng nước tiểu giảm xuống 2,7 lýt. Xét nghiệm nước tiểu thấy tỉ trọng tǎng lên 1,020, đường niệu âm tính. Thể trọng cũng tǎng lên tới 62kg. Ngừng thuốc để theo dõi, sau 2 tuần không thấy bệnh tái phát, ngày 8 tháng 8 nǎm 1964 ra viện.

- Bàn luận: Từ thực tiễn lâm sàng, chúng tôi thấy dùng bài thuốc Tam nhân lộc nhung hoàn làm cơ sở để điều trị đái tháo nhạt thu được kết quả khá lý tưởng. Trong quá trình điều trị bệnh nhân nêu trên, trước tiên dùng thuốc thấy mặc dù có giảm khô cổ, giảm lượng nước tiểu, nhưng không thấy rõ giảm khát nước, không giảm lượng nước uống vào, lại thêm tái phát di tinh, nếu đổi phép trị sợ không tránh khỏi sai một ly đi một dặm. Vì nghĩ rằng Nguyên sâm, Mạch đông dùng quá nhiều có trở ngại thận dương bốc lên trên thủy khí, Phục linh lợi thủy thẩm thấp, Ngưu tất tuyên đạo hạ hành, càng làm thiếu âm không giữ được, hạn chế vô quyền, tinh dịch chảy xuống phía dưới, cho nên vẫn cho dùng bài thuốc này nhưng giảm bớt lượng Nguyên sâm, Mạch đông, không dùng Phục linh, Ngưu tất, cho thêm Tang phiêu tiêu và Kim tỏa cố tinh hoàn, nên thu được hiệu quả tốt. Từ đó chứng minh rằng khi vận dụng các bài thuốc cổ, không được rập khuôn máy móc, cần phải hiểu cho thấu đáo và vận dụng linh hoạt mới thu được kết quả thật tốt.

 

27. ĐÁI THÁO NHẠT

- Biện chứng đông y: Thấp đục ẩn bên trong, mất chức nǎng thǎng giáng.

- Cách trị: ích khí cố sáp.

- Đơn thuốc: Cố phao phương.

- Công thức:

 Hoàng kỳ                    30g  Thǎng ma                     6g
 Cát cǎn                      20g  Thiên hoa phấn           15g
 Tang phiêu tiêu           15g  Đoạn mẫu lệ               30g
 Ngũ vị tử                    12g  Bạch truật (sao)          10g
 Trần bì                         6g  Cam thảo                    6g

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Trương XX, nam, 27 tuổi. Ngày 15-8-1976 do đổ nhà bị thương ở gò má phải, chảy ít máu, hôn mê mất khoảng 2 giờ. Một tuần sau xuất hiện uống nhiều đái nhiều, càng ngày càng trầm trọng, cứ 10 phút lại phải tiểu tiện 1 lần, 1 ngày đêm uống tới 10-12 bình nước. Trước đây người khỏe mạnh, không có tiền sử bệnh mạn tính. Đã điều trị tại một bệnh viện, dùng nhiều loại thuốc nhưng vô hiệu. Ngày 18 tháng 9 tới khám và điều trị. Khám thấy phía dưới đuôi mắt phải còn vết sẹo dài, mi mắt phải bị nứt hẹp, vùng bị thương hơi sưng, ngực và hai chân có những vết xây sát dài trên da. Tỷ trọng nước tiểu 1,005, đường niệu âm tính, đường huyết 92mg %, Kali huyết 22mg%, Clo huyết 600mg%, Natri huyết 306mg% khả nǎng kết hợp carbonic 61,7 thể tích %, Nitơ không protêin 33mg%. Thành phần máu: bạch cầu 6.200/mm3, trung tính 74%, lymphô 26%, các xét nghiệm khác không thấy gì khác thường. Mạch tế xác mà yếu, chất lưỡi đỏ, thân lưỡi nhỏ, rêu vàng khô, thuộc chứng phế thận khí âm đều hư. Cho dùng "Cố phao phương", tùy theo các triệu chứng mà gia giảm, dùng liên tục hơn 30 thang, các chứng đều lui giảm, lượng nước uống vào từ 10-12 bình giảm xuống 1-2 bình một ngày, tinh thần và ǎn uống như bình thường, các xét nghiệm đều hồi phụ bình thường, sau khi ngừng thuốc tiếp tục theo dõi đến ngày 8 tháng 11 ra viện. Sau khi ra viện vẫn tham gia lao động bình thường, tình trạng sức khỏe tốt.

 

198. ĐAU ĐẦU DO MẠCH MÁU

- Biện chứng đông y: Ngoại cảm nội thương, ứ trở mạch đạo.

- Cách trị: Khử tà an lý, thông kinh hoạt lạc, hóa ứ chỉ thống.

- Đơn thuốc: Đầu thông linh thang.

- Công thức:

 Đương quy                10g  Xuyên khung              15g
 Sinh địa hoàng          10g  Bạch thược                15g
 Đào nhân                  10g  Hồng hoa                   10g
 Phòng phong             10g  Bạch chỉ                    10g
 Khương hoạt             10g  Độc hoạt                     6g
 Câu đằng                  20g  Kê huyết đằng           30g

Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Nếu kiêm phong hàn thì thêm Ma hoàng 10g, Tế tân 10g, Phụ tử 10g, kiêm phong nhiệt thì thêm Sinh thạch cao 30g, Sài hồ 10g, Hoàng cầm 10g, kiêm ứ huyết thì tǎng thêm lượng vị thuốc hoạt huyết trong bài thuốc, lại thêm Xích thược 10g, kèm đờm thấp thì thêm Ngũ linh tán; kèm can thận âm hư thì thêm Sinh long cốt 30g, Mẫu lệ 30g, Sinh địa tǎng lên 15g.

- Bàn luận: Qua thực tiễn lâm sàng nhận thấy áp dụng bài Đầu thông linh thang có gia giảm thích hợp để điều trị, ngoài bệnh đau đầu do mạch máu ra, đối với chứng đau đầu do cǎng thẳng, đa số trường hợp đều thu được kết quả khá tốt. Ngoài ra trong khi điều trị, sau khi dùng thuốc được vài thang, lượng Xuyên khung trong thang có thể tǎng lên 20-30g. Còn khi chữa đau đầu do cǎng thẳng thì vị Bạch thược trong thang có thể tǎng đến 30g. Nếu người bệnh kiêm cả mấy dạng thì có thể dùng kiêm cả mấy dạng kể trong bài thuốc. Thực tiễn lâm sàng chứng tỏ dùng như thế kết quả điều trị rất tốt.

 

199. ĐAU ĐẦU DO MẠCH MÁU

- Biện chứng đông y: trở kinh mạch, kinh khí bất thư, thang dương bất cử, nhiễm loạn thanh không

- Cách trị: ích khí cử dương, hóa ứ thông lạc.

- Đơn thuốc: Tân phương huyết phủ trục ứ thang.

- Công thức:

 Bắc hoàng kỳ            15g  Xuyên khung             10g
 Nhũ hương                10g  Sinh địa hoàng          20g
 Xích thược                10g  Ngưu tất                    12g
 Ngô công               2 con  Đào nhân                  10g
 Tế tân                         8g  Cam thảo                    6g
 Hồng hoa                    8g  

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Quách X, nam, 40 tuổi, công nhân. Tới khám ngày 24-2-1979. Từ hơn 10 nǎm trước đã phát chứng đau đầu, sau nặng dần, mỗi tháng lên cơn 2-3 lần, có khi liên tục mấy ngày, chủ yếu là đau không chịu nổi ở trán và 2 thái dương. Khám không thấy khác thường. Chẩn đoán là đau đầu do mạch máu. Đã dùng nhiều thứ thuốc tây và đông y mà chưa đạt kết quả, nên tới khám. Mạch trầm huyền mà sáp, lưỡi đỏ thẫm, rêu trắng. Hợp mạch với chứng thì đây là bệnh đã lâu nǎm, bệnh lâu tất ứ, tất hư, ứ thì trở lạc, hư thì khí huyết không khả nǎng hoạt động. Hai cái cùng dẫn tới ứ huyết trở trệ, kinh khí bất thứ, thanh dương bất cử, thanh không thất lợi. Chữa nó phải ích khí cử dương, hóa ứ thông lạc. Cho dùng bài Tân phương huyết phủ trục ứ thang, uống 6 thang, các chứng giảm nhiều, nếu còn phát, thì cũng chỉ hơi đau. Cho uống tiếp 6 thang rồi ngừng lại theo dõi, thấy bệnh ổn định. Hơn 1 nǎm sau hỏi thǎm, không thấy tái phát.

- Bàn luận: Đau đầu lâu ngày dần thành cố tật, nếu muốn công hiệu nhanh thì các vị thuốc bình thường không trị nổi, phải làm thêm vào thuốc khử ứ hoạt huyết những vị khu phong thông lạc. Tế tân là vị tân nhiệt, giỏi về khu não phong, thúc đẩy các vị hoạt huyết ứ vào thẳng ổ bệnh, hợp sức công phá các ứ tích, hiệu quả rõ rệt. Vì thế trong các sách chép vị Tế tân phần nhiều chỉ dùng 1-3g, ở đây lại dùng đến 8g, Riêng về vị Tế tân này, các bậc tiền bối đã từng đi sâu nghiên cứu, cho rằng chỉ cần biện chứng mà dùng thuốc chính xác thì lượng dùng lớn mới có thể chém tướng chiếm cửa ải, giống như quân lính cốt ở mũi tiên phong vậy. Tác giả đã chữa cho vợ bị chứng cảm mạo, lượng tǎng tới 9g, mà không thấy có phản ứng xấu. Vì vậy vị thuốc này có thể tǎng lượng một cách thích hợp, không phải lo ngại gì. Nếu lại phối hợp các vị phù hợp thì càng không e ngại nữa. Tuy nhiên với bệnh nhân thể chất hư nhược thì tốt nhất là hãy cho lượng như bình thường.

 

200. ĐAU ĐẦU DO MẠCH MÁU

- Biện chứng đông y: Can mộc ứ uất, hóa hỏa làm thương tổn đến âm, âm huyết bất túc, kinh khí bất hư, bế tắc não lạc, lại thêm phong tà, thượng nhiễu hanh không.

- Cách trị: Dưỡng âm thanh nhiệt, khử phong thông lạc, hóa đờm chỉ thống.

- Đơn thuốc: Thược dược mẫu đơn thang.

- Công thức:

 Sinh bạch thược         30g  Mẫu đơn bì                 10g
 Cam thảo                   10g  Đương quy                 12g
 Sinh địa hoàng           12g  Xuyên khung                6g
 Đào nhân                   10g  Hồng hoa                     6g
 Cúc hoa                     10g  Câu đằng                   12g

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Chu XX, nữ, 18 tuổi, khám lần đầu ngày 12-8-1978. Đau đầu đã 4 nǎm, gần như ngày nào cũng lên cơn, đau nhiều ở mé đầu phải, kèm nôn oẹ, ảnh hưởng tới ǎn uống, sinh hoạt và học tập, rất khổ sở. Đã khám chữa ở bệnh viện, chẩn đoán là đau đầu do mạch máu kiểu đau nửa đầu, dùng thuốc đã nhiều mà không kết quả. Lần này đến khám, do tinh thần cǎng thẳng nên đau đầu càng nặng, nhìn sắc mặt kém tươi, rìa lưỡi và đầu lưỡi đỏ, ít rêu, mạch huyền, tế, đó là chứng mộc uất phong động. Dùng bài Thược dược mẫu đơn thang, uống liền 7 thang, chứng đau nửa đầu khỏi đến tám phần. Bèn cho thêm Phục linh 12g vào thang thuốc cũ, cho uống liền hơn 30 thang, khỏi đau đầu, các chứng đều hết. Sau hơn 3 nǎm, tình trạng vẫn tốt.

- Bàn luận: Bài thuốc dùng cho ca bệnh này là do kết hợp 3 bài Thược dược cam thảo thang, Đào hồng tứ vật thang, Đan chi tiều dao tán thêm bớt mà thành, đem điều trị bệnh đau đầu do mạch máu kiểu đau nửa đầu được thực tế lâm sàng chứng tỏ cho kết quả rất lý tưởng

 

201. ĐAU ĐẦU DO MẠCH MÁU

- Biện chứng đông y: Khí trệ huyết ứ, trở yết thanh không.

- Cách trị: Hoạt huyết hóa ứ, thông kinh chỉ thống.

- Đơn thuốc: Gia vị huyết phủ trục ứ thang.

- Công thức:

 Xuyên khung              9g  Sài hồ                      10g
 Đương quy               12g  Sinh địa                   12g
 Đào nhân                 12g  Hồng hoa                   9g
 Chỉ xác                      9g  Xuyên ngưu tất          9g
 Xích thược                9g  Cát cánh                   9g
 Nguyên hồ                 6g  Cam thảo                  6g

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Lý XX, nữ, 27 tuổi, kế toán, chưa kết hôn. Tới khám ngày 20-4-1979. Bị bệnh đau nửa đầu có chu kỳ đã hơn 16 nǎm. Hồi đầu khoảng vài tháng lên cơn một lần, sau mỗi tháng một lần, bắt đầu từ mùa đông nǎm ngoái mỗi tuần một lần. Trước mỗi lần lên cơn, mắt như nhìn thấy hình ảnh động của gương phản chiếu, tiếp sau đau nhói ở vùng tai phải, kéo dài từ 20 phút đến vài giờ, lúc nặng thì nôn mửa, sau cơn đau mệt mỏi, buồn ngủ. Những lần lên cơn dường như không có liên quan rõ rệt với khí hậu, tinh thần hoặc chế độ ǎn uống. Kể rằng dì và em gái đều có bệnh sử tương tự. Đã chữa ở bệnh viện, chẩn đoán là đau nửa đầu do mạch máu, chữa trong nhiều nǎm không khỏi, người bệnh rất khổ sở. Nay lại sắp lên cơn nên tới khám. Biểu hiện sắc mặt tối tǎm, đờ đẫn, lưới tím thâm, đầu lưỡi trái có mảng ứ, mạch trầm, sáp. Đây là chứng đau nửa đầu thể huyết ứ, vì bệnh lâu ngày ắt ứ trệ, che phủ thanh đạo, không thông ắt đau. Phải chữa bằng hoạt huyết hóa ứ, dùng bài Gia vị huyết trục ứ thang, khi khám lại cho thêm Toàn yết 3g, uống tẩt cả 50 thang, các chứng khỏi hết. Trong khi uống thuốc có 3 lần lên cơn, nhưng thời gian cách quãng kéo dài dần, mức độ đau cũng nhẹ. Ngừng thuốc đã hơn một nǎm mà không tái phát.

 

202. ĐAU ĐẦU DO MẠCH MÁU

- Biện chứng đông y: Khí huyết đều hư, huyết hư sinh phong, thượng nhiễu thanh không.

- Cách trị: Bổ ích khí huyết, sơ phong chỉ thống.

- Đơn thuốc: Quy kỳ khương hoạt thang.

- Công thức:

 Toàn đương quy                              24g
 Hoàng kỳ (nướng)                           24g
 Khương hoạt (cho sau)                          15g

Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Nếu nôn mửa nhiều thì thêm Khương bán hạ 6g, khí trệ huyết ứ thì thêm Xuyên khung 10g, Xạ hương 0,15g, nếu kèm can hỏa thì thêm Câu đằng 18g, Bạch tật lê 10g, Hoàng cầm 10g; âm hư hỏa vượng thì thêm Đan bì 10g, Sinh địa hoàng 15g; nếu đờm trọc nặng thì thêm Pháp hạ 6g, Trúc nhự 10g.

- Hiệu quả lâm sàng: Hoàng XX, nữ, 52 tuổi, nông dân tới khám ngày 21-6-1978. Đã 4 nǎm đau đi đau lại vùng đầu bên trái, hễ cứ làm lụng vất vả hoặc suy nghĩ thái quá là lên cơn, đau lan ra đỉnh đầu, trán, lợm giọng, nôn mửa, váng đầu, mệt mỏi, sức yếu, người hỏang hốt, thở gấp, ǎn uống giảm sút. Dáng người gầy gò, sắc mặt không tươi. Kiểm tra điện não đồ, chụp phim não đều không phát hiện được gì khác thường, chẩn đoán lâm sàng là đau nửa đầu do mạch máu, dùng nhiều loại thuốc trấn tĩnh, giảm đau cũng như thuốc đông y bình can tức phong mà không có kết quả rõ rệt. Nửa nǎm nay bệnh nặng thêm, đau đầu liên tiếp, mỗi tuần 2-3 lần, mỗi lần kéo dài 1-3 giờ, người bệnh rất khổ sở. Khám lục mạch trầm, tế, vô lực, lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng. Kết hợp mạch chứng chẩn đoán là bệnh lâu ngày, hư nhiều, lại dùng nhiều thuốc đắng, táo khiến khí huyết khuy hao, huyết hư sinh phong, thượng nhiễu thanh không. Cổ nhân có câu "Trị phong trước tiên phải trị huyết, huyết mà hành thì phong tự diệt". Theo đó bèn cho dùng bài Quy kỳ khương hoạt thang, thêm Pháp hạ 6g, uống liền 3 thang, các chứng đều đỡ. Tuy có lên cơn một lần nhưng đau nhẹ, thời gian đau cũng ngắn. Nhưng bệnh nhân kêu miệng nhạt, ǎn uống kém. Lấy bài thuốc trên bỏ Pháp hạ, mỗi lần uống lại uống thêm Hương sa lục quân tử hoàn 6g. Dùng thuốc liền hơn 20 ngày, ngoài cảm giác đôi khi váng đầu, còn đều cảm thấy thoải mái. Đó là bệnh lâu ngày dẫn đến hư nhược, nguyên dương bất túc. Bèn cho dùng Nhân sâm dưỡng vinh hoàn để củng cố. Sau phát hai lần, nhưng nhẹ hơn trước nhiều, vẫn trị bằng bài thuốc trên, chỉ vài thang là khỏi. Theo dõi hơn một nǎm nay không tái phát.

- Bàn luận: Bài thuốc Quy kỳ khương hoạt thang do vị đông y lão thành Đường Vĩnh Tế truyền lại, dùng trong lâm sàng có gia giảm để chữa cho những bệnh nhân bị đau đầu tương tự như trên, mỗi lần dùng đều cho kết quả tốt.


 

195. ĐAU ĐẦU DO THẦN KINH

- Biện chứng đông y: Phong hàn nội kết, trở trệ kinh mạch, thượng phạm thanh không.

- Cách trị: Khử phong tán hàn, thông kinh chỉ thống.

- Đơn thuốc: Cứu não thang.

- Công thức:

 Tân di                      9g  Xuyên khung           30g
 Tế tân                     3g  Đương quy             30g
 Mạn kinh tử             6g  

Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Nếu đầu đau tức, mắt đỏ thì thêm Câu đằng 30g, Long đởm thảo 6g, Thạch quyết minh 30g; khí hư mệt mỏi thì thêm Sinh kỳ 15g, Đảng sâm 12g; mất ngủ mộng mị thì thêm Táo nhân (sao) 15g, Dạ giao đằng 15g, Sinh, Long mẫu mỗi thứ 15g; đau lâu không rứt, ứ trở mạch lạc thì thêm Thủy diệt (đỉa) 3g, Ngô công 3 con, Toàn trùng 5g, bị hành nôn mửa thì thêm Bán hạ 10g, Ngô thù du 6g, Sinh khương 5 lát, bị nhiệt nôn mửa thì thêm Đại giả thạch 15g, Trúc nhự 10g.

- Hiệu quả lâm sàng: Trương XX, nữ, 18 tuổi, kế toán. Đau đầu đã 12 nǎm, chữa chạy nhiều mà vô hiệu. Tới khám ngày 12-6-1977. Người bệnh ngay từ nhỏ đã khổ vì đau đầu, cách vài ngày bệnh phát 1 lần, nhẹ thì phải nằm nghỉ ngơi, nặng thì phải tiêm hoặc uống thuốc giảm đau mới đỡ. Nửa nǎm nay, bệnh phát liên tục và càng kịch liệt hơn, châm cứu, hoặc uống thuốc giảm đau không còn tác dụng. Khám thấy vẻ mặt đau đớn, tỉnh táo, biểu hiện lạnh nhạt, hai mắt không có Thần, đồng tử to đều, đáy mắt không có gì khác thường, huyết áp 126/74 mmHg, lưỡi đỏ nhạt, mạch huyền tế mà sáp. Chẩn đoán lâm sàng là đau đầu do thần kinh. Khám xong cho dùng Cứu não thang có thêm Thủy diệt 3g, Ngô công 3 con, Toàn trùng 5g. Uống 1 thang, đau đầu giảm hẳn. Uống 4 thang các chứng đều hết. Cǎn bệnh kéo dài 12 nǎm bỗng chốc khỏi hẳn. Để củng cố hiệu quả, giảm bớt liều lượng của bài thuốc trên, cho thêm Bạch thược 15g, Thục địa 15g, để dưỡng huyết tư âm, nhu can cố bản. Cho dùng 3 thang. Theo dõi 2 nǎm, bệnh không tái phát.

- Bàn luận: Bài Cứu não thang được chép trong trong sách "Biện chứng lục" của Trần Sĩ Phong thời Thanh. áp dụng có gia giảm vào lâm sàng để chữa bệnh đau đầu do thần kinh thu được kết quả rất tốt, mà với các chứng đau đầu dai dẳng khác cũng có kết quả khá. Từ tháng 5-1977 đến tháng 4-1980 dùng bài Cứu não thang có gia giảm chữa cho 80 bệnh nhân đau đầu dai dẳng khác nhau phần lớn chỉ 3 đến 6 thang là khỏi hẳn hoặc giảm nhẹ.

 

196. ĐAU ĐẦU DO THẦN KINH

- Biện chứng đông y: Can uất khí trệ, ứ trở mạch lạc, thượng phạm thanh không não mất sự nuôi dưỡng.

- Cách trị: Sơ can giải uất, hóa ứ thông kinh, hành khí chỉ thống.

- Đơn thuốc: Sơ can hóa ứ chỉ thống thang.

- Công thức:

 Sài hồ                 15g  Xuyên khung        35g
 Đào nhân              5g  Hồng hoa              5g
 Hương phụ          20g  Phòng phong       15g
 Khương hoạt         5g  Bạch chỉ               5g

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Lưu XX, nam, 51 tuổi, công nhân. Khám lần đầu ngày 31-5-1975. Bệnh nhân kể đau đầu phát đi phát lại đã 12 nǎm. Mấy tháng nay trở nên kịch liệt, kèm theo tâm phiền buồn nôn, mắt mọng đau, lúc nặng phải dánh vào đỉnh đầu mới đỡ. Có khi kéo dài 2-3 ngày liền. Đã khám chữa nhièu lần ở bệnh viện, chẩn đoán là đau đầu do thần kinh, uống nhiều loại thuốc là không kết quả rõ rệt. Nay đến khám thấy mạch huyền, tế, chỉ có mạch xích bên trái phù, lưỡi rêu xám trắng, chất lưỡi tím xanh. Hợp chứng và mạch lại, thì đây là can uất khí trệ, ứ trở mạch lạc, thượng phạm thanh không, não mất nhu dưỡng. Chữa nó phải sơ can giải uất, hóa ứ thông kinh, hành khí chỉ thống. Cho dùng bài Sơ can hóa ứ chỉ thống thang. Uống được 3 thang, bệnh chứng giảm hẳn. Thêm vào bài thuốc Bán hạ 15g, Hoàng cầm 35g, Thương truật 20g, để tǎng cường sức hòa giải thiếu dương kiện tỳ lý trung.

Uống 3 thang nữa các chứng cơ bản tiêu trừ. Lúc này bệnh nhận bị cảm, sốt nhẹ. Bèn cho thêm vào bài thuốc các vị Thạch cao 25g, Sinh địa 25g, lại cho uống mấy thang nữa, các chứng đều hết, bệnh khỏi. Theo dõi nhiều nǎm, không tái phát.

- Bàn luận: Người bệnh mắc đau dầu do thần kinh lâu 12 nǎm. Trong đông y có câu "Đau lâu ngày tất ứ" chữa trị phải theo cách hoạt huyết hóa ứ. Nhưng khảo xét kỹ nguyên lý "Can là bể máu" của người xưa thì muốn trị huyết trước tiên phải trị can, can khí mà thông suốt thì khí huyết điều hòa, tâm được máu nuôi, đường mạch thông suốt, huyết bị ứ ắt phải hoá, nên các chứng tiêu trừ. Dựa theo lý ấy, dùng bài Sơ can hóa ứ chỉ thống thang trong đó, có vị Sài hồ là thuốc chủ yếu để sơ can, phối hợp với các vị hành khí, hoạt huyết, hóa ứ, chỉ thống sẽ khiến được can khí thông suốt, khí huyết điều hoà, tâm mạch thông, huyết ứ tan, đau phải dứt. Ngoài ra, trong bài thuốc dùng lượng Xuyên khung đến 35g, theo như kinh nghiệm thực tiễn của chúng tôi thì vì bài này để trị đau đầu do thần kinh nên bắt buộc phải trọng dụng Xuyên khung, nếu không kết quả sẽ kém.

(Lời người dịch: nên cẩn thận khi dùng Xuyên khung liều cao như vậy).

 

197. ĐAU ĐẦU DO THẦN KINH

- Biện chứng đông y: Can vị hư hàn, trọc khí thượng nghịch, khí bất hành huyết, huyết bất dinh cân.

- Cách trị: Ôn can noãn vị, dưỡng huyết dinh cân.

- Đơn thuốc: Tứ vật gia ngô thù du thang.

- Công thức:

 Thục địa hoàng        10g  Đương quy              10g
 Bạch thược              6g  Xuyên khung              5g
 Ngô thù du                5g  Tây đảng sâm          15g
 Sinh khương           10g  Đại táo                    10g

Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Người nôn oẹ nhiều thì thêm Pháp bán hạ 10g.

 

203. ĐAU NỬA ĐẦU

- Biện chứng đông y: Đờm ngưng khí trệ, phong tà công kích lên đầu.

- Cách trị: Khử phong trừ đảm.

- Đơn thuốc: Thiên đầu thống thang.

- Công thức:

 Xuyên khung            30g  Bạch chỉ                    2g
 Sài hồ                       3g  Hương phụ                6g
 Bạch giới tử             10g  Bạch thược             15g
 Uất lý nhân                3g  Cam thảo                  3g

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Chu XX, nữ, công nhân. Tới khám ngày 12-6-1970. Đã hai ngày nay bệnh nhân bị đau nửa đầu bên trái, đau rất dữ dội, kêu la không ngớt, cả đêm không ngủ. Đêm hôm trước bồn chồn khác thường, cực kỳ đau khổ, xé rách cả một tấm chǎn. Đã điều trị bằng thuốc tây y nhưng không hiệu quả, được con dìu đến khám bệnh. Khám thấy tinh thần tỉnh táo, người gầy, vẻ mặt đau đớn cấp tính. Nghe tim phổi không thấy gì khác thường. Huyết áp 120/80 mmHg. Chất lưỡi đỏ nhạt, rêu mỏng trắng, gốc hơi bẩn, mạch huyền tế. Chứng này thuộc về đàm ngưng khí trệ, phong tà thương công. Cần trị bằng cách khử phong trừ đàm. Cho uống "Thiên đầu thống thang". Uống được 1 thang, đau giảm được quá nửa, tự cảm thấy bệnh mười phần đã lui được bảy, tám, đêm đã ngủ được yên được một lúc, rất phấn khởi. Lại uống tiếp 2 thang, đã hết đau nửa đầu, thần sắc trở lại bình thường, bệnh khỏi hẳn. Theo dõi hơn 8 nǎm sau, không thấy bệnh tái phát.

 

194. ĐAU THẦN KINH GIAN SƯỜN

- Biện chứng đông y: Can uất khí trệ, ứ huyết nội trở.

- Cách trị: Thư can lý khí, hóa ứ chỉ thống.

- Đơn thuốc: Đan chi tức thống thang.

- Công thức:

 Đan sâm                  12g  Linh chi (sao)           10g
 Hương phụ              12g  Đương quy              10g
 Phật thủ                   12g  Sài hồ                      10g
 Bạch thược             12g  Nguyên hồ               12g
 Cam thảo                  6g  Tam thất phấn            3g 
(chiêu với nước thuốc)

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Dương XX, nam, 36 tuổi. Đau xuyên hai bên sườn, lúc đau lúc không, ảnh hưởng tới hoạt động. Theo lời kể thì nguyên nhân không rõ, chỉ thấy trước khi bị bệnh thì tinh thần không thoải mái do cãi nhau trong gia đình. Mạch huyền, sáp, lưỡi bình thường, rêu trắng. Chẩn đoán lâm sàng là đau thần kinh gian sườn. Đây là chứng can uất khí trệ, ứ huyết nội trở. Cho dùng bài Đan chi tức thống thang, uống 2 thang khỏi ngay đau, mọi chứng đều hết, bệnh khỏi.

- Bàn luận: Thực tiễn lâm sàng trong nhiều nǎm cho thấy, bài Đan chi tức thống thang dùng chữa đau thần kinh gian sườn thu được kết quả tốt, đồng thời đem chữa chứng đau, khó chịu ở hai bên sườn do viêm gan mạn hoặc xơ gan thời kỳ đầu cũng cho kết quả mĩ mãn.

 

188. ĐAU THẦN KINH HÔNG

- Biện chứng đông y: Phong hàn thấp tí, bế tắc kinh lạc.

- Cách trị: Trừ thấp tán hàn, ôn thong kinh mạch.

- Đơn thuốc: Tân phương quế chi thang.

- Công thức:

 Quế chi                 30-60g  Bạch thược           15-30g
 Sinh khương          3-5 lát  Cam thảo                  5-6g
 Đại táo            5 - 10 quả  Bắc hoàng kỳ        15-30g
 Đương quy           10-15g  Xuyên ngưu tất      10-15g
 Độc hoạt               10-15g  

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Bàn luận: Nếu người đau thần kinh hông thể chất dương thịnh thể hiện ở lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền hoặc thực mà sác, thì nên cẩn thận khi dùng "Tân phương quế chi thang".

 

189. ĐAU THẦN KINH HÔNG

- Biện chứng đông y: Phong hàn thấp tà, quấy nhiễn ở bên trong kinh mạch

- Cách trị: Khu phong trừ thấp, ôn kinh, thông lạc

- Đơn thuốc: Gia giảm thiên kim ô đầu thang.

- Công thức:

 Chế xuyên ô              9g  Thục phụ tử               9g
 Nhục quế                  9g  Phòng phong             9g
 Thục tiêu                   9g  Tế tân                       3g
Độc hoạt                  15g  Can khương              5g
 Tần giao                  15g  Đương quy              30g
 Bạch thược             12g  Phục linh                 12g
 Cam thảo                  3g  Đại táo                  5 quả

Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Người đau nhiều ở thắt lưng thì nên thêm Đỗ trọng 12g, Thục đoạn 12g, Ngưu tất 12g. Người hư khí thì nên thêm Nhân sâm 6-9g, Hoàng kỳ 15-30g. Người chân tê nhiều thì nên thêm Toàn tùng 9g, Ngô công 2 con, Địa long 9g. Miệng khát, đại tiện bí thì bỏ Nhục quế, Phụ tử , Thục tiêu, Tế tân.

- Hiệu quả lâm sàng: Đã theo dõi dùng "Gia giảm thiên kim ô đầu thang" điều trị có theo dõi 110 ca đau thần kinh hông, trong đó ttthể nặng 30 người, thể nhẹ 80 người đều có hiệu quả khá tốt. Một số người trong khi điều trị đã dùng phối hợp "Rượu thuốc" tác dụng càng tốt hơn. (cách chế rượu thuốc: Sinh đỗ trọng 9g, Sinh xuyên ô 9g, Sinh thảo ô 9g, Xuyên ngưu tất 9g, Xuyên mộc qua 9g, Toàn đương quy 9g, Lão quán thảo 9g, Sinh cam thảo 9g, rượu trắng loại I 1000 ml, các thứ thuốc trên đem ngâm rượu, bỏ lọ đậy kín, sau 1 tuần là uống được, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10 ml, tối đa không quá 15ml, người không uống được rượu thì không dùng).

- Bàn luận: Qua thực tiễn lâm sàng, chúng tôi nhận thấy bài thuốc và rượu thuốc trên có hiệu quả tốt đối với đau thần kinh hông nguyên phát, còn đối với bệnh nhân thứ phát như đau thần kinh hông do thoát vị đĩa đệm, thắt lưng cùng hóa thì hiệu quả ít. Tuy nhiên cũng có hiệu lực nhất định với các bệnh xương cột sống, thắng lưng có biểu hiện tǎng sinh.

 

190. ĐAU THẦN KINH HÔNG

- Biện chứng đông y: Hàn thấp tà chuyển vào kinh lạc, khí huyết ứ tắc làm đường kinh không thông.

- Cách trị: Khử thấp tán hàn, ôn thông kinh mạch , hóa ứ chỉ thống.

- Đơn thuốc: Gia vị quế ô thang.

- Công thức:

 Quế chi                     12g  Bạch thược               30g
 Đan sâm                   30g  Chế xuyên ô               9g
 Chích cam thảo           9g  

Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Người bệnh đau nhiều thì có thể thêm Chế nhũ hương 9g, Chế một dược 9g, Ngưu tất 9g, Xuyên mộc qua 9g, Đào nhân 9g; chi dưới tê nhiều thì thêm Toàn yết 9g.

- Hiệu quả lâm sàng: Đã dùng "Gia vị quế ô thang" điều trị có theo dõi 587 ca đau thần kinh hông, thấy 524 người sau khi uống thuốc 3-7 ngày đã khỏi hẳn về lâm sàng. Ngoài ra có 63 ca đau thần kinh hông do bị chèn ép, sau khi uống bài thuốc này thì triệu chứng có thuyên giảm rõ rệt trên lâm sàng, nhưng chưa khỏi hoàn toàn.

- Bàn luận: Thực tiễn lâm sàng chứng tỏ, nếu bệnh nhân đau nhiều, bệnh tình khá nặng thì lúc đầu có thể uống mỗi ngày 2 thang, chia làm nhiều lần, đợi mấy hôm sau bệnh giảm sẽ uống mỗi ngày 1 thang, hiệu quả rất tốt.

 

191. ĐAU THẦN KINH HÔNG

- Biện chứng đông y: Hàn tà ngừng trệ, uất tắc kinh mạch.

- Cách trị: Dưỡng huyết ôn kính, thòng mạch chỉ thống.

- Đơn thuốc: Sài quế ôn kinh thang.

- Công thức:

 Sài hồ                      10g  Quế chi                    10g
 Bạch thược              10g  Đương quy              15g
 Hồi hương (sao)       10g  Vân linh                   10g
 Nguyên hồ               10g  Xuyên ngưu tất        10g
 Xuyên luyện tử         10g  Sinh khương             6g
 Thục phụ tử              10g  Cam thảo                  6g

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

 

192. ĐAU THẦN KINH HÔNG

- Biện chứng đông y: Phong thấp hạ chú xuyên qua kinh lạc ngǎn cản khí huyết.

- Cách trị: Khư phong thắng thấp, thông kinh chỉ thống.

- Đơn thuốc: Thông lạc chấn kinh thang.

- Công thức:

 Đan sâm                30-45g  Câu đằng                  30g
 Huyết kiệt                    5g  Hy thiêm thảo            15g
 Ngô công                2 con  Địa long                    12g
 Sài hồ                         6g  

Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Nếu thấy khát, miệng đắng, rêu lưỡi vàng, mạch sác thì có thể thêm Ngân hoa 30g, Hoàng bá 9g, Thương truật 6g. Người thiên về hàn thì có thể thêm Quế chi 10g. Phụ phiến 6g. Người thiên về thấp, đùi tê đau tức thì thêm Dĩ nhân 30g, Thông thảo 6g, Tang chi 15g. Chân co duỗi khó khǎn thì thêm Cửu tiết phong 15g, Tục đoạn 15g, Mộc qua 6g. Có các chứng do ngoại thương kiêm ứ huyết nội trở thì thêm Hồng hoa 6g, Cốt toái bổ 15g.

- Hiệu quả lâm sàng: Theo dõi 36 ca đau thần kinh hông sau khi dùng "Thông lạc chấn kinh thang" gia giảm có 24 ca khỏi, 8 ca chuyển biến tốt, 4 ca vô hiệu.

 

193. ĐAU THẦN KINH HÔNG

- Biện chứng đông y: Cân mạch mệt mỏi tổn thương, khí huyết không vận đường kinh không thông.

- Cách trị: Thư cân hoạt lạc, hoãn cáp chỉ thông.

- Đơn thuốc: Gia vị thược dược cam thảo thang.

- Công thức:

 Sinh bạch thược       50g  Chích cam thảo         50g
 Nguyên hồ                15g  Anh túc xác              15g

Sắc uống mỗi ngày 1 thang, chia làm 3 lần. Đau bên trái nhiều thì thêm Đan sâm 20g, đau bên phải nhiều thì thêm Hoàng kỳ 20g, người hàn thì thêm một lượng Xuyên ô thích hợp.

- Hiệu quả lâm sàng: Hồ XX, nam, 40 tuổi, công nhân, hai nǎm trước bị vẹo lưng sau đó cảm tháy mông mặt phía sau đùi mặt ngoài bắp chân cho đến mu bàn chân chi dưới bên phải đau đi đau lại. Mấy ngày nay do lao lực bệnh tǎng lên. Đã dùng thuốc đông tây y kết quả không tốt. Khám thấy mặt bệch, vẻ mặt đau khổ, bắp thịt ở đùi phải hơi teo, co lại đầu gối lỏng, co duỗi khó, mạch trầm mà vô lực, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng. Chẩn đoán lâm sàng là đau thần kinh hông. Đây là bệnh hư lâu ngày làm cho khí huyết thông vận được, gân mạch không được nuôi dưỡng, lại gặp lao thương đường kinh không thông, cần trị bằng phép nhu cân hoạt lạc, hoãn cấp chỉ thống. Cho uống "Gia vị thược dược cam thảo thang". Dùng được 3 thang, các chứng giảm quá nửa. Tiếp tục dùng bài trên thêm Hoàng kỳ, Ngưu tất mỗi thứ 20g, nhằm bổ ích khí huyết, dưỡng cân hoạt lạc. Lại uống 9 thang nữa, mọi chứng khỏi hoàn toàn. Theo dõi 2 nǎm chưa thấy tái phát.

 

183. ĐAU DÂY THẦN KINH MẶT

- Biện chứng đông y: Can không được nuôi, can phong động ở trong.

- Cách trị: Nhu can tức phong hoạt lạc.

- Đơn thuốc: Tứ vị thược dược thang gia vị.

- Công thức:

 Bạch thược            30g  Sinh mẫu lệ            30g
 Đan sâm                15g  Cam thảo               15g
 Cát cǎn                  15g  Sinh hoàng kỳ        15g

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Bành XX, nữ, 51 tuổi, công nhân. Hơn nửa nǎm nay mặt bên trái và chân rǎng đột nhiên đau dữ dội kèm nửa mặt bị co giật. Lúc đầu đau chân rǎng và nửa mặt bên trái chưa rõ nguyên nhân, sau đó có mức độ đau và số cơn đau tǎng dần, mỗi cơn kéo dài vài giây đến vài chục giây. Gặp nhó nhẹ hoặc nhai không cẩn thận là có thể gây cơn đau, nhất là sau khi ǎn tôm rang thì càng rõ rệt, đau như dùi đâm, điện giật, kèm theo co giật ở dưới xương gò má trái, trước tai trái. Khi có cơn dau dữ dội, nửa đêm cũng chạy khỏi phòng nhảy nhót lung tung hoặc để nước máy xối vào chân rǎng, kêu la khóc lóc, ảnh hưởng rất xấu đến sự ǎn ngủ, người bứt rứt không yên. Bệnh nhân kể có mấy lần đau không chịu nổi muốn chết được. Có lúc thấy rǎng hàm trên bên trái lung lay, rǎng lợi sưng đau, mồm hôi. Đã điều trị ở nhiều nơi, uống thuốc đông (khu phong, hoạt huyết, thanh nhiệt giải độc), thuốc tây (trấn tĩnh, kháng sinh), châm cứu, tự bệnh nhân lại hãm nhiều tu hồng sâm, mạch đông để uống như trà đều vô hiệu. Ngày 6-12-1978 tới xin điều trị. Khám thấy: tay phải õm má trái, vẻ mặt đau đớn, rǎng hàm số 2 hàm trên bên trái lung lay, vùng lợi gần đó hơi tấy đỏ, sờ vào đau nhẹ, bờ lợi có thể thấy một ít chất trắng vàng. Lưỡi đỏ nhạt rêu mỏng, mạch trầm tế mà huyền. Sự tái phát đột nhiên những cơn đau dữ dội ở vùng mặt và chân rǎng cùng với những cơn co giật vùng mặt má, được quy là bệnh do phong tà vi "phong mà thắng thì tất phải động", bạo phong đến và đi rất nhanh. Nhưng bệnh nhân không có biểu hiện sợ gió và sốt mà lại có bứt rứt, bồn chồn, và ức uất, tác động lẫn nhau, mạch trầm tế huyền, tức là can không được nuôi, can phong động ở bên trong mà không phải là tác động của ngoại phong. Rǎng lung lay, lợi sưng đỏ, sờ thấy đau nhẹ bờ lợi có ít chất vàng trắng, miệng hôi là có nhiệt trong dương minh vị. Nên trị bằng phép nhu can tức phong hòa lạc, thêm thanh vị bài độc, uống 4 thang bài "Tứ vị thược dược thang gia vị" làm chính. Lần khám thứ hai" sau khi uống thuốc tất cả các triệu chứng kể trên đều chuyển biến rõ rệt, tinh thần cải thiện nhiều, lưỡi hơi đỏ, rêu mỏng trắng, mạch trầm tế. Lại uống tiếp bài trên 5 thang nữa. Lần khám thứ ba: hết đau vùng chân rǎng, mặt cũng hết co giật, lợi bớt sưng đỏ rõ rệt, bờ lợi trở lại bình thường. Đã thử ǎn tôm rang 1 lần không thấy tái phát. Người bệnh kể mấy nǎm gần đây đại tiện khô táo. Cho uống tiếp 5 thang bài thuốc trên có thêm 15g Qua lâu nhân để củng cố hiệu quả điều trị. Tháng 5 nǎm 1980 khám lại, người bệnh nói từ cuối nǎm 1978 dùng tất cả 14 thang bài thuốc trên hoàn toàn không thấy mặt, chân rǎng đau trở lại, rǎng hàm thứ hai bên trái cũng không lung lay nữa, cố tật đã khỏi hẳn.

- Bàn luận: Chứng đau này, sách của Vương Khẳng Đường đời Minh "chứng trị chẩn thắng" có nói "Các chứng mặt đau đều thuộc hỏa, nơi hội tụ của các (đường kinh) dương là mặt, hỏa lại là dương vậy". Thực ra mặt đau có nguyên nhân hỏa mà cũng có nguyên nhân hàn phong, bệnh án này mặt đau chính là phong. Chỉ vì người bệnh mặt đau lại luôn luôn có kèm rǎng đau nhức đầu, cho nên khi biện chứng thường ngộ nhận phong chứng là nhiệt chứng hoặc quy nhầm nội phong thành ngoại phong mà cho những bài thuốc có nhiều vị thanh nhiệt tán phong. Chữa bệnh đau mặt đầu tiên phải bàn đến nguyên nhân, mà khi bàn đến nguyên nhân chứng phong thì đầu tiên phải bàn đến vấn đề nội phong hay ngoại phong, nếu không thì làm sao có thể "biết tà ở đâu đến mà chữa trị". Nếu không thì "bệnh có nguyên nhân bên trong mà lại phát tán bừa bãi, ắt gió nóng càng dữ dội thêm, như lò đã đỏ lại quạt thêm gió làm sao dập được lửa. "Tứ vị thược dược thang gia vị" là một bài thuốc có hiệu quả từ nhiều nǎm nay dùng để trị các chứng can phong gây ra như đau đầu, đau mặt, đau nửa đầu, đau rǎng. Trong bài này trọng dụng Bạch thược, Sinh mẫu lệ để nhu can tiềm dương, tức phong, Bạch thược cùng với Cam thảo, cam và toan hóa âm hoãn cấp chỉ thống, Đan sâm để dưỡng huyết hòa lạc. "Giới dĩ tiềm chi", "Cao giả ức chi", "toan dĩ thu chi", "huyết dịch dĩ nhu chi" can sẽ được như dương bị nổi lên sẽ được giữ lại ở thân thủy như vậy sẽ đổi cứng thành mềm, biến động thành tĩnh, phong sẽ tắt, đau sẽ hết.

 

176. ĐAU DÂY THẦN KINH SINH BA

- Biện chứng đông y: Can âm hư khuyết, can dương thượng cang, thượng nhiễu thanh không.

- Cách trị: Dưỡng huyết nhu can, bình can tức phong, giải kinh chỉ thống.

- Đơn thuốc: Ngũ bạch thang.

- Công thức:

 Bạch thược            30g  Bạch tật lê              12g
 Bạch phụ tử             9g  Bạch cương tàm     10g
 Bạch chỉ                  9g  

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Lý XX, nữ, 48 tuổi. Mặt bên phải của bệnh nhân đã hơn 3 nǎm đau từng cơn. Mỗi lần đau phần nhiều vì gặp gió hoặc các kích thích khác, đau khoảng 10 giây, đau như điện giật, một nửa mặt cơ bị co giật, chảy nước mắt v.v... Đã phải vào bệnh viện nhiều lần để điều trị, chẩn đoán là đau dây thần kinh sinh ba, đã uống thuốc như dilantin sodium, v.v... Châm cứu, không có tác dụng. Đến xin điều trị thì thấy đầu váng, bực bội mất ngủ, mặt đỏ, miệng và họng khô, lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch huyến tế và mạnh. Đây là chứng can âm hư khuyết, can dương thượng canh, phượng nhiễu thanh không. Cần trị bằng phép dưỡng huyết như can, bình can tức phong, giải kinh chỉ thống. Cho dùng "Ngũ bạch thang", dùng thêm Câu đằng, Ngưu tất. Uống được 3 thang, các chứng giảm nhiều, lại uống 6 thang, các chứng khỏi hết, không lên cơn đau nữa. Sau đó lại uống thêm Kỉ cúc địa hoàng hoàn 1 tháng liền để củng cố hiệu quả. Sau khi khỏi còn theo dõi 5 nǎm chưa thấy tái phát.

- Bàn luận: "Ngũ bạch thang" gia giảm ngoài hiệu lực điều trị đau dây thần kinh sinh ba tương đối tốt, còn có hiệu lực nhất định đối với chứng đau đầu do cao huyết áp. Ca này trong bài thuốc đã dùng Bạch thược để dưỡng huyết nhu can, hòa âm tiềm dương, dùng Bạch tật lê, Bạch phụ tử, Cương tàm, Câu đằng để bình can tức phong, lấy Bạch chỉ để tǎng sức thông khiếu, lại có vị Ngưu tất mà theo nghiên cứu dược lý hiện đại thì có tác dụng giãn mạch, hạ huyết áp, giảm đau, do đó thu được kết quả tốt.

 

177. ĐAU DÂY THẦN KINH SINH BA

- Biện chứng đông y: Phong hàn ẩn náu ở não, làm tắc trệ thanh không.

- Cách trị: Khư phong tán hàn, thông kinh, chỉ thống.

- Đơn thuốc: Lư thống ninh.

- Công thức:

 Xuyên khung          50g  Tất bát                   50g
 Bạch chỉ                50g  Xuyên tiêu              50g

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. Người thiên về nhiệt có thể thêm Đảm tinh 10g, Sơn chi 15g, người thiên về hàn có thể thêm Tế tân 5g, Chế Xuyên ô 15g.

- Hiệu quả lâm sàng: Từ nǎm 1967 đã theo dõi "Lư thống ninh" gia giảm điều trị 200 ca bệnh đau dây thần kinh sinh ba, bình quân một liệu trình dài 2 tuần lễ, phần lớn bệnh nhân đã khỏi hoặc thuyên giảm rõ rệt, tổng cộng tỉ lệ khỏi là 90%, hỏi lại 1 nǎm sau trong số 150 ca, trừ 18 ca có tái phát còn tất cả đều có kết quả vững chắc.

- Bàn luận: Trong thời gian uống "Lư thống ninh", bệnh nhân nên ngừng mọi phương pháp điều trị khác, nói chung 4-6 ngày là có kết quả. Đối với người uống thuốc một tuần rồi mà không thấy giảm đau thì tǎng lượng Xuyên khung lên 75g, qua 10 nǎm theo dõi lâm sàng, thêm Xuyên khung lên như thế chưa thấy phát sinh tác dụng phụ. Cǎn cứ các tư liệu nghiên cứu dược lý hiện đại thì các thành phần chủ yếu điều trị đau thần kinh sinh ba trong bài này, có thể là chứa tetra methyl pyraxin và piperin. Thực tiễn cho thấy bài này dùng điều trị đau đầu do mạch máu, đau thắt ngực, viêm mút thần kinh đều có tác dụng nhất định.

 

178. ĐAU THẦN KINH SINH BA

- Biện chứng đông y: Khí trệ huyết ứ, uất mà phát sốt, ứ nhiệt quấy lên, thanh không thất lợi.

- Cách trị: Hành khí hoạt huyết, hóa ư thông lạc, thanh khí tỉnh não.

- Đơn thuốc: Gia vị thược dược cam thảo thang.

- Công thức:

 Bạch thược (sao)       18g  Chích cam thảo           9g
 Chế hương phụ           9g  Qui vĩ                        12g
 Đào nhân                    9g  Thích tật lê                  9g
 Cam cúc hoa              9g  Đại xuyên khung         5g
 Sinh thạch cao          25g  Cao bản                     5g
 Toàn đương qui           9g  Hồng hoa (tươi)          9g

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

 

179. ĐAU THẦN KINH SINH BA

- Biện chứng đông y: Khí hư huyết trệ, phong đàm quấy lên.

- Cách trị: Bổ ích khí huyết khu phong hóa đàm, khư ứ thông kinh.

- Đơn thuốc: Hóa ứ khu phong chỉ thống thang.

- Công thức:

 Sinh hoàng kỳ            15g  Đương qui                   6g
 Xích thược                12g  Phòng phong               6g
 Khương hoạt               3g  Ngô công                2 con
 Hồng hoa                   12g  Huyền sâm                15g

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.

- Bàn luận: Bài thuốc này là tiếp thu từ dân gian Tân Cương. Trong bài có Ngô công, công thức nguyên thủy là Toàn yết, nhưng Toàn yết khó kiếm, thay bằng Ngô công, hiệu quả không có gì khác.

 

180. ĐAU DÂY THẦN KINH SINH BA

- Biện chứng đông y: Dương minh lạc hư, can phong thừa cơ tấn công.

- Cách trị: Bình can tức phong chỉ thống.

- Đơn thuốc: Tam thoa thần kinh thống phương.

- Công thức:

 Kinh giới thán             9g  Thạch quyết minh      30g
(cho trước)
 Nguyên hồ                15g  Bạch tật lê                  9g
 Nộm câu đằng          12g  Bạch cương tàm         9g
 Hương bạch chỉ       4,5g  Mãn kinh (sao)            9g
 Trần bì                     4,5g  Toàn yết phán             3g
(nuốt chửng)

 Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

 

70. ĐAU THẮT ĐỘNG MẠCH VÀNH

- Biện chứng đông y: Dương khí uất bế.

- Cách trị: Ôn dương hành khí, thông kinh hoạt lạc.

- Đơn thuốc: Phức phương đan sâm ẩm.

- Công thức:

 Đan sâm                  15g  Giáng hương           15g
 Mộc thông                12g  Vương bất lưu hành 12g
 Tam thất                     6g  Thông thảo                3g

 Sắc uống.

- Hiệu quả lâm sàng: Trương XX, nam, 56 tuổi, xã viên, sơ chẩn ngàh 21-3-1975. Người bệnh thường vẫn phát sinh hoảng hốt, thở gấp, đau thắt tim ngực không chịu nổi, thường nằm mơ giật mình dậy, đã hơn nửa nǎm. Đã từng chẩn đoán là đau thắt động mạch vành, dùng không ít các thuốc đông thuốc tây mà không kiến hiệu. Khám thấy dinh dưỡng trung bình, vẻ người buồn khổ, da mềm ướt, mặt xanh bệt, nghe phổi bình thường, tiếng tim yếu mà nhanh, tim đập 156 lần/phút, mạch kết đại, rêu lưỡi mỏng trắng. Dùng một thang "Phức phương đan sâm ẩm"thấy các triệu chứng đỡ, bớt hẳn đau ngực, tiếng tim vẫn yếu, tim đập 142 lần/phút, mạch trầm mà đại, lại cho uống tiếp 2 thang. Ngày 28 tháng 3 khám lại đã hết đau ngực, không có cảm giác đè nén. Còn hơi thấy tay chân bải hoải. Đại tiện kết táo, tim còn đập 110 lần/phút, vẫn uống bài trên bỏ Tam thất, Vương bất lưu hành, uống 4 thang. Cảm thấy các chứng đều hết, đã như lúc thường. Theo dõi hỏi lại chưa thấy tái phát, người khỏe mạnh, có thể làm mọi vịêc lao động chân tay ở nông thôn.


71. ÐAU THẮT ĐỘNG MẠCH VÀNH

- Biện chứng đông y: Tân dương bất chấn, tâm huyết ứ trở.
- Cách trị: ích huyết hóa ứ.
- Ðơn thuốc: Gia vị ích tâm thang.
- Công thức:

 Ðảng sâm                 15g  Hoàng kỳ                  15g
 Cát căn                      9g  Xuyên khung              9g
 Ðan sâm                   15g  Xích thược                9g
 Sơn tra                     30g  Xương bồ                  4g
 Quyết minh tử           30g  Giáng hương             3g
 Tam thất phấn          1,5g  Huyết kiệt phấn 1,5g
(trộn đều chia 2 lần
mà chiêu với nước thuốc)

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
- Bàn luận: Thực tiễn quan sát trên lâm sàng chứng minh rằng "Gia vị ích tâm thang" có thể chữa khỏi các chứng ngực bức bối, tim đau thắt một cách tương đối nhanh, lại có thể đề phòng phát sinh chứng cơ tim cứng tắc. Ðối với người có tuổi bệnh lâu ngày, khí phận đã hư mà lại còn có ứ chứng thì bài thuốc này lại càng thích hợp. Ngoài ra nó còn có hiệu quả nhất định hồi phục chức năng cơ tim.


 

68. ĐAU THẮT ĐỘNG MẠCH VÀNH TIM

- Biện chứng đông y: Huyết ứ mạch lạc.

- Cách trị: Hoạt huyết hóa ứ.

- Đơn thuốc: Manh trùng gia vị thang.

- Công thức:

 Manh trùng          6 - 12g  Trần bì                     15g

+ Người khí hư thì thêm Đảng sâm 30g,
+ Người dương hư thì thêm Tiên linh tì 12g,
+ Người âm hư thì thêm Ngọc trúc 15g,
+ Người huyết hư thì thêm Sinh địa 20g.
Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Đã dùng bài thuốc trên điều trị 15ca đau thắt động mạch vành, xác nhận là có tác dụng rõ rệt hết đau thắt. Uông XX, nữ, 59 tuổi, bệnh động mạch vành đã 3 nǎm, một tháng nay trong ngực bực bội, thở rốc ngày một nặng hơn. Vùng ngực có cảm giác cǎng thẳng, bị nén, phiền muộn, mỗi ngày hai ba lần như thế, mỗi lần kéo dài từ 1 đến 10 phút. Ǎn uống bài tiết đều bình thường. Có tiền sử tǎng huyết áp đã 25 nǎm. Ngày 22-10-1977 vào điều trị ở một bệnh viện, điện tâm đồ sóng T I, II, aVL, aVF, V3-V6 đều ngược rõ, đoạn ST thì V3-V6 đều xuống thấp, xuống thấp nhất là 0,14mm. Điện tâm đồ cho thấy thiếu máu cơ tim rõ rệt. Kết hợp triệu chứng bệnh sử, điện tâm đồ, chẩn đoán là co thắt động mạch vành và cơ tim dưới màng trong tim cứng tắc. Đã từng uống viên nitrglycerin tác dụng kéo dài và nhiều thuốc khác vẫn không thấy cải thiện các triệu chứng và điện tâm đồ. Ngày 26-10 uống Manh trùng gia vị thang, đến ngày 9 tháng 11 các triệu chứng ngực bức bối, vùng trước tim cǎng thẳng, cảm gác nén đều giảm nhẹ rõ rệt. Điện tâm đồ đoạn ST đi xuống và sóng T đảo ngược đều chuyển lên, cho là cung cấp máu cho cơ tim có được cải thiện. Tiếp tục dùng thuốc cho đến ngày 20 tháng 12, đoạn ST V2 3,5 xuống thấp 0,2-0,5mm, V4 về đến đường đẳng điện, V2,3,5,6 của sóng T trở thành thẳng đứng, V4 do đảo ngược trở thành thấp bằng, điện tâm đồ lúc đó cơ bản tương tự điện tâm đồ của bệnh nhân này làm tháng 4-1977. Xét tình hình bệnh nhân đau động mạch vành đã 3 nǎm, tǎng huyết áp đã 25 nǎm, động mạch vành cung cấp thiếu đã lâu dài nên không thể có khả nǎng khôi phục hoàn toàn.

- Bàn luận: Manh trùng vị đắng hơi hàn, có tác dụng trục ứ phá tích, thông lợi huyết mạch. Trên lâm sàng ngoài Manh trùng gia vị thang ra còn dùng Manh trùng và Huyết phủ trục ứ thang sử dụng liên hoàn để trị bệnh đau thắt động mạch vành cho 40 ca và dùng độc vị Manh trùng chữa cho 10 ca đau thắt động mạch vành đều có tác dụng làm giảm cơn đau thắt tim, hiệu quả nhanh chóng, đối với những người đã từng dùng các thuốc đông thuốc tây mà chưa thấy tác dụng rõ rệt thì cũng có tác dụng giảm bệnh ở mức độ khác nhau. Người bệnh dùng Manh trùng liên tục lâu nhất tới hơn 1 nǎm, chức nǎng gan thận, ǎn uống, bài tiết đều không thấy có phản ứng xấu nào rõ rệt cả.

 

69. ĐAU THẮT ĐỘNG MẠCH VÀNH TIM

- Biện chứng đông y: Khí huyết ứ tắc, tâm mạch không thông.

- Cách trị: Hoạt huyết hóa ứ, tuyên thông tâm mạch.

- Đơn thuốc: Thất tiếu tán gia vị.

- Công thức:

 Bồ hoàng                   10g  Ngũ linh chi                10g
 Đan sâm                    15g  Xích thược                12g
 Xuyên khung             12g  Giáng hương             10g
 Cát cǎn                     30g  Qua lâu                     15g
 Tam thất phấn              3g
(chiêu với nước thuốc)
 

Sắc uống, mỗi ngày 1 thang. Người thiên về dương hư thì có thể thêm Phụ phiến, Nhục quế, người thiên về âm hư thì có thể thêm Thủ ô, Thốn đông, người thiên về khí hư thì có thể bỏ Linh chi, thêm Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Hoàng kì, người có đàm thấp thì có thể thêm Trần bì, Bán hạ.

- Bàn luận: Việc điều trị đau thắt động mạch vành tim thì lấy "Thất tiếu tán gia vị" làm chủ yếu, kết hợp biện chứng thêm bớt ít nhiều, ứng dụng trên lâm sàng có kết quả mỹ mãn. bài này xây dựng trên cơ sở lý luận biện chứng của đông y, biện bệnh của tây y, thí dụ trong bài có Đan sâm, Cát cánh, Xuyên khung, Qua lâu đã được các nghiên cứu dược lý hiện đại chứng minh là đều có tác dụng dãn nở động mạch vành. Theo chứng minh của nhiều bệnh án được theo dõi thì bệnh động mạch vành tuyệt đại đa số thuộc về khí trệ huyết ứ phù hợp với lý luận đông y "không thông ắt đau", "khí hành ắt huyết hành", dùng các vị thuốc đông y hoạt huyết lý khí làm chủ, do đó mà bài này có tác dụng tương đối mĩ mãn cải thiện các triệu chứng lâm sàng của bệnh động mạch vành, hơn nữa sau một thời gian dùng thuốc, khi các triệu chứng lâm sàng chuyển biến tốt thì điện tâm đồ bất thường cũng cải thiện theo.

 

204. ĐỘNG KINH

- Biện chứng đông y: Can hỏa đàm nhiệt, hợp với phong nhiễu loạn bên trong, che mờ tâm khiếu.

 - Cách trị: Thanh can tả hỏa, hóa đàm tuyên khiếu, tức phong chỉ kinh.

- Đơn thuốc: Gia vị tức phong định giản thang.

- Công thức:

 Trần bì                   3g  Pháp hạ                 6g
 Nam tinh                6g  Hóa bì                   6g
 Sài hồ                   3g  Hoàng cầm            3g
 Thanh đại           1,5g  Lô hội                 1,5g
 Đương quy           9g  Câu đằng               9g
 Chích hoàng kỳ   15g  Tây đảng sâm        9g
 Bạch truật            6g  Can khương          6g

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Bạch XX, nữ, 32 tuổi. Tới khám ngày 5-4-1969. Bệnh nhân cho biết bị động kinh đã hơn 10 nǎm. Trước mỗi lúc lên cơn thường rú lên tiếng như lợn dê kêu, sau đó liền hôn mê, ngã ra đất, bất tỉnh nhân sự, miệng sùi bọt trắng, hai mắt trợn ngược, chân tay co giật, ỉa đái dầm dề. Lúc bệnh nặng, mỗi ngày thấy người mỏi mệt rã rời, còn không thấy triệu chứng gì khác.

Mạch huyền sác mà hoạt, rêu lưỡi vàng bẩn. Chứng này thuộc về can hỏa đàm nhiệt, hợp với phong làm nhiễu loạn bên trong, che mờ tâm khiếu. Cần trị bằng phép thanh can tả hỏa, hóa đàm tuyên khiếu, tức phong chỉ kinh. Sau khi khám, chúng tôi cho uống "Gia vị tức phong định giản thang" gia giảm, đã uống tất cả 50 thang, bệnh cũ đã hết, khỏe mạnh như thường. Theo dõi mười nǎm, không thấy tái phát.

- Bàn luận: Trong bài thuốc này, vị Thanh đại, Hoàng cầm, Lô hội, Sài hồ có tác dụng thanh can tả hoả; Trần bì, Pháp hạ, Nam tinh, Hóa bì có tác dụng hóa đàm khai trọc. Người xưa có nói "tỳ là nguồn gốc sinh ra đàm", cho phối hợp dùng Đảng sâm, Hoàng kỳ, Trần bì, Bạch truật để bồ tỳ ích khí, vừa có thể triệt được nguồn gốc sinh ra đàm, lại vừa có thể giảm bớt tác dụng khổ, hàn làm hỏng vị của Thanh đại, Lô hội, phát huy tác dụng tức phong thông lạc của Đương quy, Câu đằng. Sách "Kim quỹ" có nêu "người bị bệnh đàm ẩm, nên dùng ôn dược để hóa". Do đó chúng tôi có phối hợp sử dụng Can khương cùng với Pháp hạ, Nam tinh, Hóa bì để ôn hóa đàm trọc. Trong bài thuốc, cùng lúc có sử dụng các vị hàn ôn hư thực, là phù hợp với sự phức tạp và ngoan cố của bệnh động kinh, cho nên sử dụng trên lâm sàng đạt hiệu quả tốt. Nhưng vì đây là một bệnh diễn biến phức tạp và lâu dài, nên tuyệt nhiên không thể dùng 1-2 thang thuốc mà khỏi được, nhất thiết phải uống thuốc kiên trì trong khoảng thời gian dài, bệnh mới có thể khỏi được.

 

205. ĐỘNG KINH

- Biện chứng đông y: Đàm trở ứng trệ, nghịch làm đờm theo khí dâng lên làm tắc thanh khiếu.

- Cách trị: Giáng nghịch trừ đàm, khai khiếu tinh thần.

- Đơn thuốc: Khương phàn thang.

- Công thức:

 Sinh khương           9g  Sinh bạch phàn        3g

Hai vị này đem dùng đũa gỗ trộn đều thành dạng hồ, thêm nước vừa đủ, khi bệnh nhân lên cơn đem đổ vào miệng cho uống nhiều lần.

- Hiệu quả lâm sàng: Lưu XX, nữ, 7 tuổi. Khám ngày 18-4-1964 Bệnh nhân đột nhiên hôn mê ngã vật xuống, mãi không tỉnh lại. Miệng đùn rớt dãi, chân tay lạnh cứng, cấm khẩu, bàn tay nắm chặt, khí úng, thở thô, trong cổ họng có tiếng đờm rít. Rêu lưỡi trắng bẩn, mạch trầm mà hoạt. Cho cấp cứu bằng "Khương phàn thang" đổ nhiều lần vào miệng. Lát sau bệnh nhi tỉnh lại như thường, lại chạy chơi.

- Bàn luận: "Khương phàn thang" chủ yếu dùng để trị cho những bệnh nhân lên cơ động kinh mà thường mãi không tỉnh lại, tức là dùng cho những thực chứng đàm quyết thì tốt. Bài thuốc này nhằm giảm bớt đau khổ cho bệnh nhân phải chịu đựng thời gian lên cơn kéo dài. Trong bài thuốc này, Bạch phàn tinh vị chua hàn, táo thấp khứ đàm, Sinh khương tinh vị cay ấm, hạ khí khứ đàm. Hai vị phối hợp, hành khí tan đờm, thần tỉnh mà khiếu được khai.


 

206. ĐỘNG KINH

- Biện chứng đông y: Phong đàm ứng trệ, nhiễu loạn thanh không, che mất tâm khiếu.

- Cách trị: Khu phong hóa đàm, thông kinh khai khiếu.

- Đơn thuốc: Định giản thang.

- Công thức:

 Cúc hoa                  9g  Câu đằng                9g
 Bạc hà                   3g  Đảm nam tinh         3g
 Khương bán hạ       3g  Trần bì                   3g
 Vân phục                9g  Cương tàm            9g
 Trúc nhự                9g  Thiên trúc hoàng     3g
 Tuyên mộc qua       9g  Ti qua lạc               9g
 Chích cam thảo      3g  Đạm trúc diệp         9g

(trên đây là liều dành cho trẻ em).
Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Nếu đàm nhiệt thịnh, có thể thêm Hoàng cầm (sao) 3g, Địa long 9g; nếu sau khi lên cơn co giật mà chân tay tê dại thì có thể thêm Nhẫn đông đằng 9-12g, Tang chi 9-12g, Kê huyết đằng 9-12g; nếu đầu váng mắt hoa, bồn chồn không yên thì có thể thêm Long xỉ 12-15g; với người nhiệt chứng không rõ thì thêm Khương hoạt tùy mức từ 3 đến 9g, Độc hoạt 3-9g; nếu tiêu hóa không tốt có thể tùy liệu thêm lượng vừa đủ Mạch nha, Cốc nha, Dĩ nhân.

- Hiệu quả lâm sàng: Trần XX, nam, 5 tuổi. Tới khám ngày 28-4-1978, Bệnh nhi đẻ thuận, đủ tháng. Sau khi sinh, phát triển bình thường. Từ tháng 12-1977 bắt đầu phát sinh chân tay vô lực, không đi được, qua điều trị thì bệnh khỏi. Nhưng sau đó lại thấy cơ thể suy nhược, ǎn uống kém, rồi lên cơn động kinh. Khi tới khám, đúng vào lúc lên cơn động kinh, thấy bệnh nhi hai mắt lác đi, chân tay co giật, mép sùi bọt trắng, sắc mặt trắng bệch, người không tỉnh táo, lưỡi đỏ, rêu vàng bẩn, vân tay đỏ. Sau khi cho dùng "Định giản thang". Trước sau khám tất cả 5 lần, cho dùng bài thuốc này có gia giảm, tất cả uống 24 thang, các triệu chứng đã khỏi, bình phục. Về sau bố mẹ bệnh nhi có viết thứ cảm ơn, kể rằng bệnh cháu bé đã khỏi hẳn.

 

207. ĐỘNG KINH

- Biện chứng đông y: Phong đàn nội tụ, uất lâu hóa nhiệt, nhiệt đốt can âm, can dương thượng cang.

- Cách trị: Trấn can tức phong, tư âm giáng hỏa, trừ đàm định kinh.

- Đơn thuốc: Tam thạch thang.

- Công thức:

 Sinh đại giả thạch     120g  Linh từ thạch              60g
 Kim mông thạch        15g  Toàn yết                      9g
 Trần bì                       9g  Pháp bán hạ               9g
 Đạm trúc nhự            9g  Đảm nam tinh             9g
 Sinh cam thảo           6g  

Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

- Hiệu quả lâm sàng: Tôn XX, nam, 18 tuổi, học sinh. Hơn 10 nǎm nay bị bệnh động kinh, đã dùng nhiều loại thuốc để chạy chữa mà không khỏi. Gần đây, bệnh tình lại phát triển, ngày nào cũng lên cơn, ít thì 1-2 lần, nhiều thì tới mấy lần. Khi lên cơn bệnh nhân thình lình thét lên, hai mắt trợn ngược, tay chân co giật, mép sùi đờm dãI, bệnh nhân vô cùng đau khổ. Khám thấy bệnh nhân tâm thần ngơ ngác, nói nǎng không lưu loát, trí nhớ kém, phân khô, mạch trầm huyền hữu lực hơi sác, chất lưỡi hơi đỏ, rêu vàng , trắng bẩn. Sau khi khám, cho dùng "Tam thạch thang" uống được một tuần đã giảm lên cơn, chỉ còn 2 lần, hơn nữa các triệu chứng cũng giảm đi rõ rệt. Rêu lưỡi giảm, mạch trầm huyền. Lại dùng bài thuốc trên, tiếp tục cho uống hơn 20 thang nữa, các cơn động kinh đã bị ngǎn chặn. Ngừng uống thuốc đã mấy nǎm, trong suốt thời gian này chỉ có 1 lần lên cơn, với các triệu chứng rất nhẹ. Trí nhớ của bệnh nhân đã khá hơn rất nhiều so với trước đây, cũng đã làm được một số công việc trong gia đình.

 

208. ĐỘNG KINH

- Biện chứng đông y: Hàn uất hóa nhiệt, tâm âm khí hư, can phong nội động, hiệp đờm ngược lên.

- Cách trị: Hóa đàm tức phong, tư âm định kinh.

- Đơn thuốc: Giản chứng hoàn.

- Công thức:

 Thiên trúc hoàng          15g
(tán mịn riêng)
 Viễn chí nhục                 60g
(đun chín)
 Thiên đông                  60g  Bạch thược                   90g
 Phục thần                 120g  Chích cam thảo             18g
 Trầm hương                 9g Mạch đông (bỏ lõi)             60g
 Toàn phụng hoa           45g  Tô tử                            30g
 Chế hương phụ           90g  Khương bán hạ             30g
 Tạo giác giáp               60g
(bỏ vò đen, bỏ hột rồi sao lên)
 

Tất cả đem tán mịn lấy một lượng bột Hoài sơn dược vừa đủ, trộn đều cùng với nước, làm hoàn, lấy Chu sa làm áo, mỗi lần uống 9g, mỗi ngày uống 2-3 lần.

- Hiệu quả lâm sàng: Sái XX,nam, 25 tuổi. Tới khám ngày 6-9-1978. Bệnh nhân bị động kinh đã 9 nǎm nay, đã tìm nhiều cách chữa trị nhưng chưa có kết quả. Trước khi tới khám, ngày nào cũng uống Phenytoin Natri (Dilantin), nhưng cứ khoảng 10-20 hôm lại lên cơn 1 lần, khi lên cơn bao giờ cũng bắt đầu bằng một tiếng kêu thét, sau đó hôn mê ngã xuống, mép sùi bọt trắng, chân tay co giật. Sau khi khám, cho điều trị một đợt "Giản chứng hoàn". Bệnh nhân uống trong khoảng hơn một tháng. Trong suốt thời gian này không thấy lên cơn. Lại tiếp tục cho dùng một đợt nữa, khuyên nên chịu khó kiên trì uống liên tục. Uống hết thuốc thì bệnh khỏi, theo dõi gần 2 nǎm, tình trạng bệnh nhân tốt, khoẻ như người thường, không thấy tái phát cơn động kinh.

- Bàn luận: Bài thuốc "Giản chứng hoàn" này rút từ "Tiên tỉnh trai y học quảng bút ký" với tên gốc là "Bổ tâm ninh chi hoàn", gia giảm mà thành, đã thu được kết quả lý tưởng trên lâm sàng.

Nguồn tin: Viện thông tin thư viện y học trung ương

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây