
Bạch truật được trồng hoặc mọc hoang ở các tỉnh Triết Giang, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Phúc Kiến, An Huy ( Trung Quốc). Gần đây, ta cũng di thực được Bạch truật.
Tính vị qui kinh:
Vị đắng, ngọt, tính ôn. Qui kinh Tỳ vị.
Theo các Y văn cổ:
Về qui kinh:

Thành phần chủ yếu:
Atractylol, atractylon, vitamin A.
Tác dụng dược lý:
A.Theo Y học cổ truyền:
Bạch truật có tác dụng bổ khí, kiện tỳ, táo thấp, lợi thủy, cầm mồ hôi và an thai. Chủ trị các chứng Tỳ vị khí hư, chứng thủy thũng, chứng đàm ẩm, chứng khí hư tự hãn và thai động.
Trích dẫn các sách thuốc cổ:
B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:
Ứng dụng lâm sàng:
1.Trị tiêu chảy do tỳ hư: Tiêu chảy kéo dài, người mệt mỏi, ăn kém:
2.Trị chứng ra mồ hôi do khí hư: thuốc có tác dụng cố biểu chỉ hãn:
3.Trị phù do Tỳ hư: dùng Ngũ linh tán ( Bạch linh, Bạch truật, Trư linh, Trạch tả, Quế chi) hoặc Ngũ bì ẩm gia Bạch truật, Trần bì, Tang bì, Tang bạch bì, Sinh khương bì, Đại phúc bì. Bài này đối với phụ nữ có thai dùng tốt. Trường hợp Tỳ thận hư hàn dùng bài Chân vũ thang ( Chế Phụ tử, Bạch linh, Bạch thược, Sinh khương).
4.Trị chứng bệnh về gan: Trọng dụng Bạch truật, trị xơ gan cổ trướng dùng bài 30 - 60g, viêm gan mạn dùng 15 - 30g, ung thư gan 60 - 100g, trường hợp tỳ hư thấp dùng Tiêu Bạch truật, âm hư dùng Sinh tân Bạch truật, tùy bệnh gia giảm có kết quả nhất định ( Học báo Trung y học viện An huy 1984,2:25).
5.Trị trẻ em nước rãi nhiều: dùng Sinh Bạch truật 10g, xắt nhỏ, cho vào chén nhỏ nước vừa đủ chưng lên, cho ít đường cho đủ ngọt cho uống. Kết quả tốt ( Văn tế bang giới thiệu kinh nghiệm chữa nước rãi trẻ em, Báo Trung y Giang tô 1966,12:1), Quách Kiếm Hoa, độc vị Quế chi trị Tâm quí; Sinh Bạch truật trị nước rãi ( Tạp chí Trung y Liêu ninh 1986,8:42).
6.Trị chứng huyễn vựng nội nhĩ ( Hội chứng Méniere): Bành Liên Chương dùng Bạch truật ( mạch sao), Trạch tả, sao Ý dĩ mỗi thứ 30g, sắc nước uống, mỗi ngày một thang chia 3 lần, phòng trị chứng huyễn vựng nội nhĩ đạt kết quả tốt ( Tạp chí Trung y Hồ bắc 1983,4:20).
7.Trị đau lưng đùi mạn tính: dùng Bạch truật 30g, Chích Sơn giáp 6g, gia rượu trắng 20 - 30 độ 100ml ( đủ lượng làm ngập thuốc), đậy nắp đun sôi, xong nhỏ lửa độ 30 phút, đổ nước ra còn xác sắc lần hai, nước thuốc 2 lần trộn chung chia 2 lần, uống sáng và chiều, uống liền 2 - 3 ngày. Đã trị 24 ca, kết quả đều tốt ( Báo Trung cấp y 1982,6:57).
8.Trị táo bón:
9.Dùng làm thuốc an thai: chữa phụ nữ có thai, huyết hư thai động dùng bài Đương qui tán: Bạch truật 12g, Đương qui 12g, Bạch thược 12g, Hoàng cầm 12g, Xuyên khung 8g, sắc uống. Liều 2 - 4 thang, mỗi ngày 1 thang.
10.Trị đau nhức khớp do phong thấp: dùng Bạch truật kết hợp Uy linh tiên, Phòng kỷ, Tang chi . có tác dụng kiện tỳ trừ thấp chỉ thống.
Liều thường dùng và chú ý:
- Trường hợp táo thấp lợi thủy thì dùng sống, nếu dùng bổ khí kiện tỳ chỉ hãn an thai thì dùng sao
Nguồn tin: ( theo GS Trần Văn Kỳ - Dược học cổ truyền). Ảnh sưu tầm từ Internet.
CHÂM CỨU ĐẠI THÀNH - Tập 1
SINH LÝ BỆNH QUÁ TRÌNH VIÊM
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi
THỦ THUẬT " THIÊU SƠN HOẢ" ĐỂ CẮT CƠN ĐAU TRONG LOÉT HÀNH TÁ TRÀNG
214 bộ thủ chữ Hán – Cách học các bộ thủ tiếng Trung dễ nhớ
Ứng dụng của Kinh Dịch trong đời sống và lý luận Y học cổ truyền
ĐỜI NGƯỜI LÀ MỘT GIẤC MỘNG!
Thời bấm huyệt - châm cứu học - Nguyễn Văn Thang
Vinh hoa phú quý của đời người chẳng qua chỉ là một đống rác bỏ đi".
VẬN DỤNG NHÓM HUYỆT " GIÁP TÍCH HOA ĐÀ" TRONG ĐIỀU TRỊ CHỨNG "CAN VỊ BẤT HÒA"