
Vì lá giống lá trúc, thân rễ bóng nhẵn trông như ngọc nên có tên Ngọc trúc, họ Hành tỏi ( Liliaceae).
Cây này mọc nhiều ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam Trung Quốc nên tại các tỉnh biên giới của ta có thể có, nhưng ta chưa khai thác.
Tính vị qui kinh:
Vị ngọt, tính bình, qui kinh Phế Vị.
Theo Y văn cổ:
Thành phần chủ yếu:
Conballamarin, convallarin, quercitol, vitamin A.
Tác dụng dược lý:
A.Theo Y học cổ truyền:
Tư âm nhuận phế, sinh tân dưỡng vị. Chủ trị chứng ho lao phế táo, vị âm hư, âm hư ngoại cảm, chứng tiêu khát.
Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu Dược lý hiện đại:
Ứng dụng lâm sàng:
1.Trị bệnh mạch vành, đau thắt ngực: phối hợp với Đảng sâm chế thành bài:
2.Trị bệnh thấp tim: thuốc có tác dụng cường tim, tư dưỡng khí huyết, thường phối hợp với Kỷ tử, Long nhãn nhục, Mạch đông, Sinh khương, Đại táo. Nếu huyết áp thấp gia Chích thảo, trường hợp suy tuần hoàn phải gia Phụ tử, Quế nhục, trường hợp mạch nhanh huyết áp hơi cao, cần thận trọng lúc dùng.
3.Trị chứng ngoại cảm ( có triệu chứng ho, phế táo) ở bệnh nhân vốn âm hư: dùng bài:
4.Trị viêm phế quản lâu ngày, lao phổi, ho do phế táo: dùng Ngọc trúc nhuận phế cùng kết hợp với Mạch môn, Sa sâm, Thạch hộc.
Liều lượng và cách dùng:
Nguồn tin: theo GS Trần Văn Kỳ - Dược học cổ truyền - Ảnh sưu tầm từ Internet
THÁI BẠCH
CHÂM CỨU ĐẠI THÀNH - Tập 1
SINH LÝ BỆNH QUÁ TRÌNH VIÊM
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi
THỦ THUẬT " THIÊU SƠN HOẢ" ĐỂ CẮT CƠN ĐAU TRONG LOÉT HÀNH TÁ TRÀNG
THANH LINH
214 bộ thủ chữ Hán – Cách học các bộ thủ tiếng Trung dễ nhớ
Ứng dụng của Kinh Dịch trong đời sống và lý luận Y học cổ truyền
THANH LÃNH UYÊN
THÁI ẤT