
Cây mọc hoang khắp nơi ở nước ta, thường bám vào đá, tường hoặc thân cây to. Quanh năm đều có thể hái về bỏ thân rễ và rễ con, lá thái nhỏ làm thuốc khô hoặc tươi.
Tính vị qui kinh:
Vị đắng ngọt, tính hơi hàn, qui kinh Phế, Bàng quang.
Theo các sách thuốc cổ:
Thành phần chủ yếu:
Trong lá loại Thạch vỹ Pyrrosiae Linguae có: diploptene, beta-sitosterol, saponin, tannin, anthroquinone.
Tác dụng dược lý:
A.Theo Y học cổ truyền:
Thạch vỹ có tác dụng lợi thủy thông lâm, hóa đàm chỉ khái, cầm máu.
Chủ trị các chứng lâm, phù thũng, ho, băng lậu, thổ huyết, nục huyết.
Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:
Thuốc có tác dụng cầm ho long đờm và có tác dụng kháng khuẩn phần nào. Chiết xuất cồn ête của thuốc hòa trong nước với nồng độ 55 làm giun đất chết sau 45 phút.
Trường Đại học Y khoa Hà nội (1960) thử tác dụng của thuốc trên nhiều loại ký sinh trùng, thấy có tác dụng rõ đối với sán lá ruột (Fasciolopsis buski), ký sinh trùng chết sau khi cho uống thuốc 15 phút.
Ứng dụng lâm sàng:
1.Trị viêm đường tiểu: thuốc có tác dụng lợi tiểu thông lâm.
2.Trị chứng thổ huyết, băng huyết:
3.Trị viêm phế quản mạn tính:
Liều thường dùng:
Nguồn tin: theo GS Trần Văn Kỳ - Dược học cổ truyền - Ảnh sưu tầm từ Internet
TẤT DƯƠNG QUAN
THÁI BẠCH
CHÂM CỨU ĐẠI THÀNH - Tập 1
SINH LÝ BỆNH QUÁ TRÌNH VIÊM
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi
TÂM DU
THỦ THUẬT " THIÊU SƠN HOẢ" ĐỂ CẮT CƠN ĐAU TRONG LOÉT HÀNH TÁ TRÀNG
THANH LINH
214 bộ thủ chữ Hán – Cách học các bộ thủ tiếng Trung dễ nhớ
Ứng dụng của Kinh Dịch trong đời sống và lý luận Y học cổ truyền