Contact Me on Zalo
Contact Me on Zalo
0985261315
Phúc Tâm Đường
Tại sao gọi thầy thuốc Tây y là "bác sĩ"? BS Phan Xuân Trung

Tại sao gọi thầy thuốc Tây y là "bác sĩ"? BS Phan Xuân Trung

Việc gọi thầy thuốc Tây y là "bác sĩ" là một sự chuyển nghĩa thú vị trong lịch sử ngôn ngữ tiếng Việt, bắt nguồn từ sự giao thoa văn hóa thời Pháp thuộc và cách người Việt dịch các danh xưng phương Tây.

Xem tiếp...

.

CỰ LIÊU

  •   09/09/2014 11:16:38
  •   Đã xem: 12375
CỰ LIÊU ( Juliáo). Huyệt thứ 3 thuộc Vị kinh ( S 3). Tên gọi: Cự ( có nghĩa là lớn); Liêu ( có nghĩa là nói đến kẻ hở xương hay chỗ lõm của kẻ hở xương. Huyệt nằm nơi chỗ hõm ở xương hàm trên, nơi gò má, ở đó có một kẻ hở lớn trong xương nên gọi là Cự liêu ( kẻ hở lớn).
.

CỰ KHUYẾT

  •   09/09/2014 11:06:48
  •   Đã xem: 14177
CỰ KHUYẾT ( Jùquè). Huyệt thứ 14 thuộc Nhâm mạch ( CV 14). Tên gọi: Cự ( có nghĩa là to lớn); Khuyết ( có nghĩa là cổng hai tầng, làm hai cái đai ngoài cửa, trên làm cái lầu, ở giữa làm lối đi gọi là khuyết. Tâm khí chảy vào Tâm qua huyệt này, nó là Mộ huyệt của Tâm, trong " Châm cứu vấn đối" cho nó như là cung điện của trái tim nên gọi nó là Cự khuyết.
.

CỰ CỐT

  •   09/09/2014 10:46:33
  •   Đã xem: 10610
CỰ CỐT ( Jùgũ). Huyệt thứ 16 thuộc Đại trường kinh ( LI 16). Tên gọi: Cự ( có nghĩa là một cái gì đó to lên); Cốt ( có nghĩa là xương). Ngày xưa theo giải phẫu cổ gọi xương đòn là Cự cốt. Huyệt này nằm trên chỗ cuối cùng ở bên của vai, nơi đó thường được mang gánh nặng hoặc người ta mang một vật gì đó ở trên vai. Cho nên có tên là Cự cốt ( xương lớn, xương đòn gánh).
.

CƠ MÔN

  •   08/09/2014 08:36:02
  •   Đã xem: 4255
CƠ MÔN ( Ji mén). Huyệt thứ 11 thuộc Tỳ kinh (Sp 11). Tên gọi: Cơ ( có nghĩa là cái rổ, cái sàng, cái nia); Môn ( có nghĩa là cửa, nơi ra vào thường xuyên). Khi điểm huyệt này, bảo bệnh nhân gập cong đầu gối ngồi soạt và dang bàn chân ra như thể đang ôm một cái rổ giữa hai đầu gối.
.

CÔNG TÔN

  •   08/09/2014 08:27:22
  •   Đã xem: 11710
CÔNG TÔN (Gòngsùn ). Huyệt thứ 4 thuộc Tỳ kinh (Sp 4). Tên gọi: Công ( nguyên nghĩa là một hình thức nói có ý tôn trọng đối với viên chức cao cấp); Tôn ( có nghĩa là cháu trai). Vào thời xưa, con trai của Hoàng tử và Công tước thời phong kiến được gọi là Công tôn ( cháu). Huyệt này là huyệt " lạc " nối từ kinh đó với một nhánh khác nên có tên là Công tôn.