
Bạch cương tàm dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh. Ở nước ta có nhiều nơi nuôi tằm. Người ta lấy những con tằm tự nhiên bị bệnh chết cho vào vôi sấy khô là được.
Tính vị qui kinh:
Bạch cương tàm vị mặn cay tính bình. Qui kinh Can phế.
Theo các sách thuốc cổ:

Thành phần chủ yếu:
Ammonium oxalate, chitinase, beauverician, asparagine, fibrinolysin.
Phân tích chung thì trong Bạch cương tàm có chừng: 67,44% chất protid; 4,38% chất béo; 6,34% tro và 11,34% độ ẩm.
Tác dụng dược lý:
A.Theo Y học cổ truyền:
Bạch cương tàm có tác dụng: tức phong chỉ kinh (chống co giật), khu phong chỉ thống (giảm đau), giải độc tán kết.
Chủ trị các chứng: đàm nhiệt kinh phong, động kinh co giật, trúng phong liệt mặt, đau đầu mắt đỏ, cổ họng sưng đau, phong trùng nha thống (đau răng), đàm hạch loa lịch (lao hạch lâm ba), đinh nhọt đơn độc.
Trích đoạn Y văn cổ:
B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:
Ứng dụng lâm sàng:
1.Trị chứng phong nhiệt đau đầu co giật:
2.Trị viêm hầu họng sưng đau, mất tiếng:
3.Trị mặt đen sạm:
Bạch cương tàm tán mịn hòa với nước bôi vào chỗ sạm.
4.Trị đau nửa đầu (thiên đầu thống):
Cương tàm tán nhỏ hòa với nước chè uống. Có khi uống với cùng với nước lạnh.
5.Trị động kinh:
Dùng nhộng tằm khử mỡ chế thành phiến. Mỗi lần uống 0,9 - 1,5g, ngày 3 lần, trẻ nhỏ giảm liều. Trị 100 ca động kinh (nguyên phát 46 ca, co giật triệu chứng 54 ca). Theo dõi 2 tháng đến 2 năm, kết quả 26 ca không tái phát, lên cơn ít và nhẹ 51 ca, tỷ lệ có kết quả 77% (Báo cáo của Trần Kiến Gia, Báo Giang tô Y dược 1976,2:33).
Liều dùng và chú ý:
Nguồn tin: ( Theo GS Trần Văn Kỳ - Dược học cổ truyền) - Ảnh sưu tầm từ Internet.
THÁI BẠCH
CHÂM CỨU ĐẠI THÀNH - Tập 1
SINH LÝ BỆNH QUÁ TRÌNH VIÊM
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi
THỦ THUẬT " THIÊU SƠN HOẢ" ĐỂ CẮT CƠN ĐAU TRONG LOÉT HÀNH TÁ TRÀNG
THANH LINH
214 bộ thủ chữ Hán – Cách học các bộ thủ tiếng Trung dễ nhớ
Ứng dụng của Kinh Dịch trong đời sống và lý luận Y học cổ truyền
XA TIỀN TỬ
THANH LÃNH UYÊN