
Cây Tử uyển mọc nhiều ở các tỉnh Hà Bắc, An Huy, Đông Bắc, Hoa Bắc, Tây Bắc Trung Quốc. Cây Tử uyển Việt Nam là loại được xác dịnh tên thực vật học là Aster trinervus Roxb (theo Petelot) thấy mọc ở miền Bắc Việt Nam như vùng Cao Bằng, Lạng Sơn nhưng chưa hoặc ít được khai thác, ta còn phải nhập của Trung Quốc.
Chế biến: Vào 2 mùa Xuân Thu đào về, bỏ đoạn thân rễ (thường gọi là rễ mẹ) có đốt và bùn cát, phơi khô. Các miếng Tử uyển cho mật và ít nước trộn đều cho lửa nhỏ sao cho đến khi không dính tay là được.
Tính vị qui kinh:
Tử uyển vị đắng ngọt hơi ôn, qui kinh phế.
Theo các sách thuốc cổ:
Thành phần chủ yếu:
Astersaponin, quercetin, epifriedelinol, friedelin, shionone, anethole, lachnophyllol, lachnophyllol acetate, aleic acid, aromatic acid.
Tác dụng dược lý:
A.Theo Y học cổ truyền:
Tử uyển có tác dụng hóa đàm khí chỉ khái.
Chủ trị các chứng ho do phong hàn, do phế nhiệt, ho do phế hư lao.
Trích đoạn Y văn cổ:
B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Ứng dụng lâm sàng:
1.Trị ho do cảm mạo, viêm đường hô hấp trên:
2.Trị lao phổi do phế âm hư, ho đàm có máu:
3.Lao khái cao tư phương (Hải thượng y tông tâm lĩnh):
Liều lượng thường dùng và chú ý:
Nguồn tin: theo GS Trần Văn Kỳ - Dược học cổ truyền - Ảnh sưu tầm từ Internet
THÁI BẠCH
CHÂM CỨU ĐẠI THÀNH - Tập 1
SINH LÝ BỆNH QUÁ TRÌNH VIÊM
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi
THỦ THUẬT " THIÊU SƠN HOẢ" ĐỂ CẮT CƠN ĐAU TRONG LOÉT HÀNH TÁ TRÀNG
THANH LINH
214 bộ thủ chữ Hán – Cách học các bộ thủ tiếng Trung dễ nhớ
Ứng dụng của Kinh Dịch trong đời sống và lý luận Y học cổ truyền
XA TIỀN TỬ
THANH LÃNH UYÊN