
Rong biển mọc hoang khắp bờ biển nước ta, thường bám vào những dãy đá ngầm ven biển, nhiều nhất là ở vùng biển Vĩnh Linh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Nam Hà, Thái Bình, Quảng Ninh.
Đến mùa hè thu hái rong biển đem về bỏ tạp chất, rửa sạch phơi cho héo cắt nhỏ phơi khô làm thuốc.
Tính vị qui kinh:
Hải tảo vị mặn, tính hàn, qui kinh Can, Vị, Thận.
Theo các sách thuốc cổ:
Thành phần chủ yếu:
Alginic acid, manitol, kali, iod, laminine, sargassan.
Theo sách Đỗ tất Lợi trong Hải tảo có từ 10 - 15% muối vô cơ (trong đó có rất nhiều iod 0,3 - 0,8% asen, kali); 1 - 2% lipid; 4 - 5% protid và nhiều algin hay alginic acid.
Theo sách Trung dược học thành phần có iod (Dương thê thái 0,03%, Hải khao tử 0,017%), acid Hải tảo, Hải giao tố (gelatine), manitol, amino acid, sắt. Kali.
Tác dụng dược lý:
A.Theo Y học cổ truyền:
Hải tảo có tác dụng; tiêu đàm nhuyễn kiên, lợi thủy tiêu phù.
Chủ trị các chứng: anh lựu, loa lịch (u bướu, lao hạch), cước khí phù thũng, thủy thũng.
Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:
Ứng dụng lâm sàng:
1.Trị thiếu máu não: Trong Hải tảo có thể chiết xuất một loại PSS tác dụng giống như Heparin, có tác dụng chống đông máu, làm giảm độ dính của máu, hạ lipid huyết và cải thiện vi tuần hoàn, dùng 1 - 2mg/kg, cho vào 500ml gluco 10%, nhỏ giọt tĩnh mạch ngày 1 lần, 10 ngày là 1 liệu trình. Tác giả đã theo dõi 288 ca, trong đó nhũn não 237 ca có kết quả 92%, còn dùng trị tắc mạch não cấp 251 ca, có kết quả 93,2% (Hàn trọng Nham, Tạp chí Thực dụng Nội khoa 1987,11:580)
2.Trị lao hạch:
3.Trị bướu cổ:
4.Trị lở ngứa ngoài da:
Liều lượng thường dùng và chú ý:
Nguồn tin: theo GS Trần Văn Kỳ - Dược học cổ truyền - Ảnh sưu tầm từ Internet
THÁI BẠCH
CHÂM CỨU ĐẠI THÀNH - Tập 1
SINH LÝ BỆNH QUÁ TRÌNH VIÊM
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi
THỦ THUẬT " THIÊU SƠN HOẢ" ĐỂ CẮT CƠN ĐAU TRONG LOÉT HÀNH TÁ TRÀNG
THANH LINH
214 bộ thủ chữ Hán – Cách học các bộ thủ tiếng Trung dễ nhớ
Ứng dụng của Kinh Dịch trong đời sống và lý luận Y học cổ truyền
XA TIỀN TỬ
THANH LÃNH UYÊN