Contact Me on Zalo
Contact Me on Zalo
0985261315
Phúc Tâm Đường
Tại sao gọi thầy thuốc Tây y là "bác sĩ"? BS Phan Xuân Trung

Tại sao gọi thầy thuốc Tây y là "bác sĩ"? BS Phan Xuân Trung

Việc gọi thầy thuốc Tây y là "bác sĩ" là một sự chuyển nghĩa thú vị trong lịch sử ngôn ngữ tiếng Việt, bắt nguồn từ sự giao thoa văn hóa thời Pháp thuộc và cách người Việt dịch các danh xưng phương Tây.

Xem tiếp...

.

RAU SAM

  •   10/09/2015 00:42:43
  •   Đã xem: 2535
RAU SAM (Herba portulaxae Oleracere) Cong gọi là Mã xĩ hiện, Mã xĩ thái, dùng toàn cây Rau sam (Portulaca oleraceae L.) thuộc họ Rau Sam (Portulacaceae). Theo Danh mục thuốc thiết yếu thuốc đông y và thuốc từ dược liệu lần VI thuộc nhóm VII - Thanh nhiệt giải độc.
.

RÂU NGÔ

  •   10/09/2015 00:32:38
  •   Đã xem: 3946
Tên khác: Ngọc mễ tu. Tên khoa học: Styli et stigmata Maydis Nguồn gốc: Vòi và núm phơi khô của hoa cây Ngô (Zea mays L.), họ Lúa (Poaceae) đã già và cho bắp, râu ngô hái vào lúc thu hoạch Ngô. Ngô được trồng ở nhiều nơi trong nước ta và nhiều nước khác. Theo Danh mục thuốc thiết yếu thuốc đông y và thuốc từ dược liệu lần VI thuộc nhóm XIX - Thẩm thấp lợi thủy.
.

KIÊN TỈNH

  •   09/09/2015 07:50:59
  •   Đã xem: 15811
KIÊN TỈNH ( Jiàn Jing - Tsienn Tsing ). Huyệt thứ 21 thuộc Đởm kinh ( G 21). Tên gọi: Kiên ( có nghĩa là vai hay cùng vai); Tỉnh ( có nghĩa giếng, nói đến chỗ hõm sâu). Huyệt ở trên vai, dưới nó là khoang ngực trống và sâu như một cái giếng nên gọi là Kiên tỉnh.
.

KIÊN NGUNG

  •   09/09/2015 07:41:45
  •   Đã xem: 13356
KIÊN NGUNG ( Jiànyú - Tsienn Lu). Huyệt thứ 15 thuộc Đại trường kinh ( LI 15). Tên gọi: Kiên ( có nghĩa là vai); Ngung ( có nghĩa là đầu xương vai). Huyệt này ở đầu xương vai và có biểu hiện ở sự rối loạn vai nên gọi là Kiên ngung ( đầu xương vai).
.

KIÊN NGOẠI DU

  •   09/09/2015 07:30:35
  •   Đã xem: 8808
KIÊN NGOẠI DU ( Jiànwàishù - Tsienn oae Iu). Huyệt thứ 14 thuộc Tiểu trường kinh ( SI 14). Tên gọi: Kiên ( có nghĩa là vai); Ngoại ( có nghĩa là bên ngoài); Du ( là nơi ra vào, ở đây có nghĩa là huyệt. Kiên ngoại có nghĩa là bên ngoài xương vai ở phía trên vai, nói đến huyệt không nằm trên xương vai mặc dù gần với nó. Huyệt này cao hơn biên giới giữa của xương vai, không giống như hai huyệt ( Kiên trung du, Thiên liêu) trước đây nằm trên đó. Do đó mà có tên Kiên ngoại du ( huyệt bên cạnh ngoài xương vai).